Cam kết về hàng rào kỹ thuật trong Hiệp định EVFTA

Người viết: admin - Ngày viết: Thursday, Jan 7, 2021 | 6:29 - Lượt xem: 215

Hệ thống thương mại quốc tế cởi mở và công bằng là một trong những nền tảng đối với khả năng cạnh tranh của Châu Âu. Giải quyết các rào cản đối với xuất khẩu của EU ở các nước khác chiếm phần lớn tiềm năng cải thiện vị thế cạnh tranh của ngành công nghiệp EU. EU đã liên tục loại bỏ những rào cản này trong nền kinh tế của mình và hiện là một trong những thị trường mở nhất trên thế giới. Với việc loại bỏ thuế hải quan trong hiệp định thương mại, tác động của các yêu cầu kỹ thuật đối với thương mại rõ ràng hơn.

Chương về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) theo Hiệp định bao gồm các quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc và các tiêu chuẩn tự nguyện xác định các đặc tính cụ thể mà một sản phẩm phải tuân thủ, chẳng hạn như kích thước, hình dạng, thiết kế, ghi nhãn, đánh dấu, đóng gói, chức năng hoặc hiệu suất. Các quy trình cụ thể được sử dụng để kiểm tra và chứng minh liệu một sản phẩm có tuân thủ các yêu cầu này hay không cũng được đề cập trong chương này. Những cái gọi là “thủ tục đánh giá sự phù hợp” này có thể bao gồm, ví dụ, các hoạt động thử nghiệm, kiểm tra và chứng nhận sản phẩm.

Các yêu cầu kỹ thuật thường được các cơ quan chính phủ đưa ra với mục tiêu chính sách công hợp pháp – ví dụ: bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của con người, đời sống và sức khỏe của động thực vật hoặc môi trường hoặc bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng hạn chế hơn mức cần thiết để bảo vệ mục tiêu hợp pháp đó và trở thành rào cản đối với thương mại. Việc điều chỉnh sản phẩm và quy trình sản xuất để phù hợp với các yêu cầu khác nhau tại các thị trường xuất khẩu, cũng như chứng minh sự tuân thủ các yêu cầu này, làm tăng giá thành sản phẩm và thời gian đưa ra thị trường, và cuối cùng có thể làm tổn hại đến khả năng cạnh tranh của các nhà xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Doanh nghiệp vừa và nhỏ).

Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, ví dụ: ghi nhãn thực phẩm, an toàn đồ chơi, thông số kỹ thuật của ô tô hoặc an toàn và tiết kiệm năng lượng của các thiết bị gia dụng.

Hiệp định thương mại có các điều khoản nhằm giải quyết các rào cản như vậy, vượt ra ngoài các nghĩa vụ của Hiệp định TBT của WTO.

Mục đích là để đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp là không phân biệt đối xử và không tạo ra những trở ngại không cần thiết cho thương mại. Hiệp định TBT đặc biệt khuyến khích các thành viên đưa ra các biện pháp của mình dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế như một phương tiện để tạo thuận lợi cho thương mại. Thông qua các điều khoản minh bạch, hiệp định cũng nhằm mục đích tạo ra một môi trường giao dịch có thể dự đoán được.

Quy chuẩn kỹ thuật

Việt Nam đã đồng ý những điều khoản sau:

+ đánh giá quy định sẵn có và những thay thế không theo quy định đối với quy chuẩn kỹ thuật được đề xuất và nỗ lực đánh giá tác động dưới hình thức đánh giá tác động theo quy định theo khuyến nghị của Ủy ban TBT của WTO

+ đề cập đến các tiêu chuẩn do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO), Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IEC), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), và Ủy ban Codex Alimentarius soạn thảo làm ví dụ về các tiêu chuẩn quốc tế sẽ được sử dụng làm cơ sở cho các quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam.

+ Rà soát các quy chuẩn kỹ thuật nhằm tăng cường sự hội tụ của chúng với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan.

Tiêu chuẩn

Thỏa thuận bao gồm các cam kết sau:

+ Khuyến khích các cơ quan tiêu chuẩn hoá tham gia vào việc soạn thảo các tiêu chuẩn quốc tế của các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc tế có liên quan.

+ sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn trong nước.

+tránh trùng lặp hoặc chồng chéo với công việc của các cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc tế.

+ thường xuyên xem xét các tiêu chuẩn quốc gia và khu vực không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế liên quan, nhằm tăng cường sự hợp nhất của chúng với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan.

+ thông báo các quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp khiến các tiêu chuẩn tự nguyện trở nên bắt buộc.

Đánh giá sự phù hợp

Việt Nam đã đồng ý những điều sau:

+ coi công bố sự phù hợp của nhà cung cấp là sự đảm bảo về sự phù hợp giữa các lựa chọn để thể hiện sự phù hợp.

+đảm bảo rằng các doanh nghiệp có sự lựa chọn giữa các cơ sở đánh giá sự phù hợp cũng như đảm bảo rằng có sự độc lập và không có xung đột lợi ích giữa các cơ quan công nhận và cơ quan đánh giá sự phù hợp.

+ xem xét việc tham gia hoặc khuyến khích các tổ chức thử nghiệm, thanh tra và chứng nhận tham gia bất kỳ thỏa thuận hoặc thỏa thuận quốc tế nào đang hoạt động nhằm hài hòa và/hoặc tạo thuận lợi cho việc chấp nhận kết quả đánh giá sự phù hợp.

Minh bạch

Hiệp định thương mại bao gồm các điều khoản nâng cao tính minh bạch, bao gồm các cam kết sau:

+ đảm bảo rằng tất cả các quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp bắt buộc được công bố công khai trên các trang web chính thức và miễn phí.

+ cho phép các nhà điều hành kinh tế của Bên kia tham gia vào bất kỳ quá trình tham vấn cộng đồng chính thức nào liên quan đến việc xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật.

+ cung cấp phản hồi cho các góp ý của Bên kia đối với các quy chuẩn kỹ thuật được đề xuất.

Giám sát thị trường

Hiệp định thương mại có các điều khoản:

+ đảm bảo không có xung đột lợi ích giữa chức năng giám sát thị trường và chức năng đánh giá sự phù hợp cũng như giữa các cơ quan giám sát thị trường và các nhà điều hành kinh tế chịu sự kiểm soát hoặc giám sát.

Lê T. Kông

Hits: 12