Bản tin TBT Tháng 02/2018

Post by: admin - Post date: Sunday, Feb 25, 2018 | 1:39 - View count: 56

TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về chất tẩy rửa dùng trong gia đình

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/401, G/TBT/N/BHR/513, G/TBT/N/KWT/395, G/TBT/N/OMN/339, G/TBT/N/QAT/512, G/TBT/N/SAU/1037, G/TBT/N/YEM/115 ngày 15/12/2017, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật GSO “Các yêu cầu chung về an toàn của chất tẩy rửa gia đình” (11 trang, bằng tiếng Anh)

Quy chuẩn kỹ thuật vùng Vịnh này thiết lập các yêu cầu áp dụng đối với các chất tẩy rửa gia dụng đang bán trên thị trường trong phạm vi các quốc gia GCC (Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh ) đảm bảo mức độ bảo vệ môi trường cao và an toàn cho con người. Quy chuẩn kỹ thuật này không bao gồm các Chất tẩy rửa công nghiệp và chất tẩy rửa cơ quan cũng như các sản phẩm có tính chất khử trùng và diệt khuẩn.

Các sản phẩm trong phạm vi của quy định này được đề cập trong Phụ lục 1. Trong quy định. Các sản phẩm bổ sung có thể được bổ sung theo các định nghĩa được đề cập trong khoản (3) của quy định.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ người tiêu dùng.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Braxin về sơn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/768 ngày 18/12/2017, Braxin thông báo ban hành Dự thảo Luật quy định giới hạn tối đa về chì trong sơn (8/12/2017).

Dự thảo Luật quy định giới hạn tối đa về chì trong sơn và vật liệu tương tự với lớp phủ bề mặt, được xây dựng trong Danh mục của Cơ quan An toàn Hóa học Ủy ban Quốc gia (CONASQ), với sự phối hợp của Bộ Môi trường.

Các đề xuất nên được gửi thông qua biểu mẫu điện tử có tại www.mma.gov.br, trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày công bố Thông báo này.

Braxin đã hủy bỏ Luật 11.762, ngày 1 tháng 8 năm 2008, giữ giới hạn về chì trong sơn và các vật liệu phủ tương tự như đã được quốc hội thông qua bởi luật mới.

Mục đích ban hành Luật này nhằm bảo vệ người tiêu dùng; đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Thông báo của Braxin về thuốc lá

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/769 ngày 05/01/2018, Braxin thông báo ban hành Nghị quyết RDC số 195, ngày 14 tháng 12 năm 2017. (16 trang, tiếng Bồ Đào Nha). Đã được xuất bản vào ngày 18 tháng 12 năm 2017 (DOU 241, 142/146) và được tái xuất bản vào ngày 19 tháng 12 năm 2017 (DOU 242, 154/156).

Nghị quyết này quy định các yêu cầu đóng gói và cảnh báo sức khoẻ đối với các sản phẩm thuốc lá hút thuốc lá.

Nghị quyết này áp dụng cho tất cả các sản phẩm thuốc hút được bán ở trong nước, sản xuất trong nước và nhập khẩu. Bao bì nguyên sinh và thứ cấp của tất cả các sản phẩm thuốc lá hút có nguồn gốc từ thuốc lá đều phải có các cảnh báo sức khoẻ về những thiệt hại phát sinh từ việc sử dụng các sản phẩm này và thông điệp cấm bán trẻ em dưới mười tám tuổi, như được quy định trong Nghị quyết này. Tất cả các cảnh báo sức khoẻ và thông báo cấm bán đồ cho trẻ em dưới 18 tuổi phải được in ở bên ngoài bao bì với độ phân giải cao, rõ ràng và rõ nét, theo mẫu trong Phụ lục của Nghị quyết này mà không thay đổi tỷ lệ giữa các yếu tố của nó, cũng như các thông số đồ hoạ của nó.

Các quy định của Nghị quyết này tuân thủ Hiệp định khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) được thông qua bởi các quốc gia thành viên vào ngày 21 tháng 5 năm 2003 và đã được ký bởi Braxin vào ngày 16 tháng 6 năm 2003, ban hành theo Nghị định 5658, ngày 02 tháng 01 năm 2006 và tuân theo hướng dẫn thực hiện, được thông qua bởi Hội nghị các Bên.

Nghị quyết này bãi bỏ Nghị quyết RDC 335, ngày 21 tháng 11 năm 2003; RDC 168 ngày 07/7/2004; RDC 10, ngày 15/2/2007; RDC 30, ngày 23/5/2013; RDC 43, ngày 3/9//2013 và RDC 14, ngày 10/4/2015.

Mục đích ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người; Bảo vệ sức khoẻ con người.

Thời điểm dự kiến ​​có hiệu lực: 25/5/2018

Thông báo của Braxin về sản phẩm, hàng hóa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/778 ngày 11/01/2018, Braxin thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết Nº 455, ngày 28 tháng 12 năm 2017. (4 trang, tiếng Bồ Đào Nha)

Dự thảo Nghị quyết này thiết lập việc quản lý rủi ro về vệ sinh áp dụng cho các hoạt động kiểm soát và thanh tra, nhập khẩu  sản phẩm và hàng hóa phải được giám sát vệ sinh và các biện pháp khác.

Nghị quyết này quy định việc áp dụng quản lý rủi ro vệ sinh cho các hoạt động kiểm soát và kiểm tra và sự cố trong nhập khẩu hàng hoá và sản phẩm thuộc trách nhiệm của Cơ quan giám sát về vệ sinh quốc gia (gọi tắt là Anvisa).Các chương trình cụ thể và các chế độ kiểm soát và kiểm soát khác biệt do Anvisa thiết lập sẽ được tính đến trong việc áp dụng quản lý rủi ro sức khoẻ được đề cập trong Nghị quyết này.

Nghị quyết này thiết lập các tiêu chí quản lý rủi ro vệ sinh được áp dụng cho các hoạt động kiểm soát và thanh tra, trong việc nhập khẩu hàng hoá và sản phẩm được giám sát vệ sinh.

Anvisa sẽ đệ trình các thủ tục nhập khẩu hàng hoá hoặc sản phẩm thuộc hệ thống giám sát vệ sinh vào phân tích rủi ro theo các tiêu chí được quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này để lựa chọn một trong các kênh kiểm tra sau đây:

  1. Màu xanh, kênh cấp phép đơn giản hóa cho các quy trình nhập khẩu của các công ty và sản phẩm được chuẩn hoá tại Anvisa bằng cách miễn kiểm tra chứng từ và kiểm tra hàng hoá;
  2. Màu vàng, một kênh giám sát thực hiện phân tích tài liệu về quá trình nhập khẩu với khả năng phê duyệt, miễn kiểm tra hàng hoá, nếu không có bất thường về chứng từ;

III. Màu Đỏ, kênh giám sát thực hiện phân tích tài liệu, kiểm tra hàng hoá và các thủ tục vệ sinh hiện hành khác được thiết lập theo định mức cụ thể; và

  1. Màu Xám, một kênh giám sát thực hiện các thủ tục điều tra đặc biệt.

Bất kể kênh giám sát được lựa chọn nào, theo danh sách trên, việc xác định các bằng chứng về bất thường, bởi cơ quan vệ sinh có thể dẫn tới việc thành lập một Thủ tục Điều tra đặc biệt.

Nghị quyết này bãi bỏ khoản 8 của Chương III Nghị quyết của Hội đồng Quản trị – RDC số 81, ngày 5 tháng 11 năm 2008.

Mục đích của việc ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người.

Thông báo của Braxin về thực phẩm và bao bì

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/779 ngày 11/01/2018, Braxin thông báo ban hành Dự thảo nghị quyết số 458, ngày 28 tháng 12 năm 2017 (3 trang, tiếng Bồ Đào Nha)

Nghị quyết này sửa đổi Nghị quyết RDC số 27 ngày 6 tháng 8 năm 2010, quy định về việc miễn và bắt buộc đăng ký vệ sinh đối với các loại thực phẩm và bao bì.

Nghị quyết này sửa đổi danh mục thực phẩm và bao bì không thuộc đăng ký vệ sinh bắt buộc tại Phụ lục I và danh mục thực phẩm và bao bì có đăng ký vệ sinh bắt buộc theo Phụ lục II của Nghị quyết số 27 của RDC năm 2010.

Mục đích ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người.

Thông báo của Braxin về thực phẩm bổ sung và ghi nhãn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/781 ngày 11/01/2018, Braxin thông báo ban hành Dự thảo nghị quyết số 457, ngày 28 tháng 12 năm 2017 (41 trang, bằng tiếng Bồ Đào Nha)

Hướng dẫn Chỉ thị này thiết lập danh sách các chất dinh dưỡng, các chất hoạt tính sinh học, các enzyme và probiotic, các giới hạn sử dụng, các tuyên bố và ghi nhãn bổ sung các chất bổ sung thực phẩm.

Phụ lục I xác định danh mục các chất probiotic và các thành phần nguồn của các chất dinh dưỡng, các chất hoạt tính sinh học và các enzyme được phép sử dụng trong thực phẩm bổ sung.

Phụ lục II đưa ra danh sách các mức tối thiểu các chất dinh dưỡng, các chất hoạt tính sinh học, enzyme và probiotic được cung cấp bởi các chất bổ sung chế độ ăn uống trong khuyến cáo hàng ngày cho tiêu dùng và nhóm dân số do nhà sản xuất chỉ định.

Phụ lục III đưa ra danh sách hàm lượng tối đa các chất dinh dưỡng, chất hoạt tính sinh học, enzyme và probiotic mà các thực phẩm bổ sung trong khuyến cáo hàng ngày cho tiêu dùng và nhóm dân số do nhà sản xuất không thể vượt quá.

Phụ lục IV đưa ra danh sách các yêu cầu được ủy quyền sử dụng trên nhãn sản phẩm bổ sung thực phẩm và các yêu cầu về thành phần và nhãn hàng.

Phụ lục V đưa ra danh sách các yêu cầu ghi nhãn bổ sung cho thực phẩm bổ sung.

Phụ lục VI xác định danh sách các lượng axit amin thiết yếu của protein tham khảo.

Mục đích của việc ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người.

Thời hạn góp ý cuối cùng là ngày 9 tháng 4 năm 2018.

 

Thông báo của Chi Lê về sắt và thép

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHL/425 ngày 15/12/2017, Chi Lê thông báo ban hành Tiêu chuẩn Chilê (NCH) số 3346-2013: Các lớp phủ mạ kẽm lên các sản phẩm sắt và thép đã qua chế tạo định hình – Yêu cầu và phương pháp thử (25 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Tiêu chuẩn này quy định các thuộc tính chung và phương pháp thử đối với lớp phủ áp dụng bằng cách nhúng các sản phẩm sắt và thép đã định hình (bao gồm cả đúc sẵn) trong một thùng kẽm (chứa không quá 2% của các kim loại khác).

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Chi Lê về thép mạ kẽm cho bê tông

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHL/426 ngày 15/12/2017, Chi Lê thông báo ban hành Tiêu chuẩn Chilê số 3260-2012: Thép – mạ kẽm cho bê tông cốt thép – Yêu cầu (14 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Tiêu chuẩn Chilê đã thông báo thiết lập các yêu cầu phải đáp ứng bằng thép nhúng nóng, thép mạ kẽm để sử dụng cho gia cố bê tông. Nó thiết lập ba lớp chất phủ – A, B và C – khác nhau về khối lượng của kẽm trên một đơn vị diện tích chứa trong lớp phủ. Tiêu chuẩn áp dụng cho các thanh, dây, lưới hàn điện và tất cả các dạng của đồ sắt được sử dụng để gia cố bê tông.

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Chi Lê về thuốc trừ sâu

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHL/428 ngày 04/01/2018, Chi Lê thông báo ban hành Nghị quyết miễn trừ các điều kiện và yêu cầu cho phép sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh (14 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Văn bản thông báo đã đưa ra các yêu cầu và điều kiện kỹ thuật để đánh giá và cho phép sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh theo nhu cầu ngày càng tăng của ngành sản xuất để sử dụng các đầu vào đó. Nghị quyết quy định: các định nghĩa, các loại và yêu cầu trước; các yêu cầu kỹ thuật và tài liệu để xác định vi sinh vật và các sản phẩm chuyển hoá hoạt động của nó; tính chất sinh học và sử dụng, phương pháp phân tích, thông tin an toàn; mục đích và hành vi trong môi trường, ảnh hưởng đến sinh vật không phải là mục tiêu, và dữ liệu liên quan đến ứng dụng.

Mục đích của Nghị quyết này nhằm ngăn ngừa các hành vi gây nhầm lẫn và bảo vệ người tiêu dùng.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Trung Quốc về ghi nhãn thực phẩm đóng gói sẵn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHN/1246 ngày 09/01/2018, Trung Quốc thông báo ban hành quy định về Các biện pháp kiểm tra và giám sát việc ghi nhãn thực phẩm đóng gói sẵn nhập khẩu và xuất khẩu (4 trang, tiếng Trung)

Các biện pháp này được xây dựng phù hợp với Luật An toàn Thực phẩm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bao gồm 5 chương và 17 điều. Mục đích của các Biện pháp này là làm rõ hơn trách nhiệm chính của các doanh nghiệp về ghi nhãn thực phẩm và trách nhiệm giám sát của các cơ quan thanh tra và kiểm dịch, cải tiến và làm rõ các nhiệm vụ khác nhau trong việc kiểm tra và giám sát hoạt động ghi nhãn.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin cho người tiêu dùng, ghi nhãn; Ngăn chặn hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người; Bảo vệ môi trường; Yêu cầu chất lượng; Hài hoà; Giảm các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho thương mại

Ngày dự kiến có hiệu lực: 01 tháng 10 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Ai Cập về Gỗ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EGY/169 ngày 10/01/2018, Ai Cập thông báo ban hành Nghị định của Chính phủ số 1002/2017 (3 trang, bằng tiếng Ả Rập) quy định bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Ai Cập ES 8087/2017 “Các tấm gỗ dùng cho xây dựng – Đặc tính, đánh giá sự phù hợp và gắn dấu” (46 trang, tiếng Ả Rập).

Nghị định số 1002/2017 của nhà sản xuất và nhà nhập khẩu cho phép nhà sản xuất và nhà nhập khẩu có thời hạn 6 tháng để tuân thủ tiêu chuẩn của Ai Cập ES 8087/2017 quy định các đặc tính liên quan và các phương pháp thử thích hợp để xác định các đặc tính cho các tấm gỗ, phủ, gỗ dán hoặc tráng.

Đáng lưu ý là tiêu chuẩn này phù hợp với Tiêu chuẩn EN 13986: 2004.

Mục đích của việc ban hành Nghị định này nhằm đảm bảo an toàn và chất lượng.

Ngày dự kiến có hiệu lực: 2 Tháng 8 năm 2017

Thông báo của Liên minh Châu Âu về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/534 ngày 12/01/2018, Liên minh Châu Âu (EU) thông báo ban hành Dự thảo Quyết định thi hành của Uỷ ban quy định các quy tắc áp dụng Điều 26 (3) của Quy định (EU) số 1169/2011 của Quốc hội Châu Âu và của Hội đồng về cung cấp thông tin thực phẩm cho người tiêu dùng về các quy tắc cho nước xuất xứ hoặc nơi xuất xứ của thành phần chính của thực phẩm khác với thức ăn cho thực phẩm đó. (6 trang, tiếng Anh)

Theo Điều 26 (8) của Quy định (EU) số 1169/2011, dự thảo Quy định Thực hiện của Ủy ban liên quan đến các biện pháp xác định phương thức để chỉ ra khi nào nguồn gốc của một thành phần chính của thực phẩm khác với nguồn gốc của thực phẩm cuối cùng.

Mục đích của việ ban hành quy định này nhằm bảo vệ và thông tin cho người tiêu dùng.

Văn bản này đề cập đến các trường hợp chỉ dẫn nguồn gốc của thực phẩm: 1) bắt buộc để sửa chữa thông tin thực phẩm gây hiểu nhầm ngụ ý nguồn gốc nào đó của thực phẩm, khi nguồn gốc thật sự của nó là khác nhau (theo Điều 26 (2) (a) của Quy định (EU) số 1169/2011); 2) tự nguyện thông qua bất kỳ chỉ dẫn như tuyên bố, thuật ngữ, trình bày hình ảnh hoặc biểu tượng. Các chỉ dẫn này phải tuân thủ các tiêu chí được đưa ra trong dự thảo đã được thông báo để tránh người tiêu dùng bị nhầm lẫn về nguồn gốc thật sự của thực phẩm.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của I-xra-en về thiết bị điện

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/986 ngày 15/12/2017, I-xra-en thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia SI 900 phần 2.14 – Các thiết bị điện dùng trong gia đình và tương tự – An toàn: Các yêu cầu cụ thể đối với các thiết bị dùng trong bếp (42 trang, tiếng Anh, 8 trang, tiếng Hebrew)

Rà soát tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng SI 900 phần 2.14, xử lý các thiết bị bếp dùng điện. Dự thảo tiêu chuẩn sửa đổi này thông qua Tiêu chuẩn Quốc tế IEC 60335-2-14 Ấn bản 6.0: 2016-06, với một vài thay đổi xuất hiện trong phần tiếng Hebrew của tiêu chuẩn như sau:

  1. Thay thế tài liệu tham khảo theo IEC 60335-1 hoặc từ “phần 1” với tham chiếu đến Tiêu chuẩn bắt buộc của I-xra-en ở tiêu chuẩn SI 900 phần 1;
  2. Bổ sung một khoản mới 201, đề cập đến các giá trị được xếp hạng và áp dụng các yêu cầu của SI 900 phần 1, nếu có;
  3. Thêm một đoạn mới, 202, xử lý EMC và áp dụng các yêu cầu của SI 900 phần 1, nếu có.

Cả tiêu chuẩn cũ và tiêu chuẩn sửa đổi mới sẽ được áp dụng kể từ khi được đăng trên Công báo của Israel cho đến tháng 6 năm 2019. Trong thời gian này sản phẩm có thể được kiểm tra theo tiêu chuẩn cũ hoặc mới.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhăm bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của I-xra-en về thiết bị điện gia dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/991 ngày 15/12/2017, I-xra-en thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia SI 900 SI 900 phần 2.80 – Các thiết bị điện gia dụng và các thiết bị tương tự – An toàn: Các yêu cầu cụ thể đối với quạt (30 trang, bằng tiếng Anh, 8 trang, tiếng Hebrew)

Rà soát tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng SI 900 phần 2.80 về quạt điện. Dự thảo tiêu chuẩn sửa đổi này thông qua Tiêu chuẩn Quốc tế IEC 60335-2-80- xuất bản lần 3.0: 2015-04, với một số thay đổi xuất hiện trong phần tiếng Hebrew của tiêu chuẩn như sau:

  1. Thay thế tài liệu tham khảo theo IEC 60335-1 hoặc từ “phần 1” với tham chiếu đến Tiêu chuẩn bắt buộc của I-xra-en ở tiêu chuẩn SI 900 phần 1;
  2. Bổ sung một khoản mới 201, đề cập đến các giá trị được xếp hạng và áp dụng các yêu cầu của SI 900 phần 1, nếu có;
  3. Thêm một đoạn mới, 202, xử lý EMC và áp dụng các yêu cầu của SI 900 phần 1, nếu có;
  4. Thêm một đoạn mới, 203, xử lý mức độ tiếng ồn và áp dụng các yêu cầu của SI 900 phần 1, nếu có.

Cả tiêu chuẩn cũ và tiêu chuẩn sửa đổi mới sẽ được áp dụng từ xuất bản trong Công báo của Israel cho đến tháng 4 năm 2018. Trong thời gian này sản phẩm có thể được kiểm tra theo tiêu chuẩn cũ hoặc mới.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhăm bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của I-xra-en về thiết bị điện gia dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/580 ngày 10/01/2018, Nhật Bản thông báo ban hành Quy định về thực phẩm chế biến hữu cơ có nguồn gốc động vật và thực phẩm chế biến hữu cơ có nguồn gốc thực vật và động vật cụ thể như sau:

  1. a) Tổng quan về các sửa đổi đối với Pháp lệnh Thực thi Pháp luật về Tiêu chuẩn, vv của Nông lâm sản (1 trang, bằng tiếng Anh)
  2. b) Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản đối với thực phẩm chế biến hữu cơ (Thông báo số 1606 của Bộ Nông lâm ngư nghiệp ngày 27 tháng 10 năm 2005) (7 trang, tiếng Anh)

Áp dụng tiêu chuẩn đối với thực phẩm hữu cơ chế biến có nguồn gốc động vật và thực phẩm chế biến hữu cơ có nguồn gốc thực vật và động vật như là một quy định kỹ thuật.

Mục đích của việc ban hành những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của I-xra-en về thiết bị điện gia dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/581 ngày 10/01/2018, Nhật Bản thông báo ban hành Quy định về chăn nuôi hữu cơ và các sản phẩm chăn nuôi hữu cơ cụ thể như sau:

  1. a) Tổng quan về việc sửa đổi Pháp lệnh Thực thi Pháp luật về Tiêu chuẩn, vv của Nông lâm sản (1 trang, bằng tiếng Anh)
  2. b) Tiêu chuẩn nông nghiệp của Nhật Bản đối với chăn nuôi hữu cơ và các sản phẩm chăn nuôi hữu cơ (Thông báo số 1608 của Bộ Nông lâm ngư nghiệp ngày 27 tháng 10 năm 2005) (18 trang tiếng Anh)

Áp dụng tiêu chuẩn đối với chăn nuôi hữu cơ và các sản phẩm chăn nuôi hữu cơ như một quy định kỹ thuật.

Mục đích của việc ban hành những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của Kenya về sản phẩm thịt

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/602 ngày 11/01/2018, Kenya thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia số KS 2761: 2017 Vệ sinh Thịt – Quy tắc Thực hành (60 trang, bằng tiếng Anh).

Tiêu chuẩn này bao gồm các quy định về vệ sinh đối với thịt, chế phẩm từ thịt và thịt đã chế biến từ thời điểm sản xuất động vật sống đến điểm bán lẻ. Tiêu chuẩn tiếp tục phát triển các nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm này.

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người; và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 3 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Kenya về ghi nhãn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/621 ngày 11/01/2018, Kenya thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia số KS 2775: 2017 Ghi nhãn thực phẩm miễn phí và các sản phẩm được chỉ định – Yêu cầu (7 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn Kenya Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu ghi nhãn tối thiểu đối với thực phẩm bổ sung và các sản phẩm được chỉ định.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo các yêu cầu chất lượng

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Hàn Quốc về thiết bị điện

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/749 ngày 11/01/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Quy định về Thiết bị Quản lý Hiệu quả Năng lượng (301 trang, bằng tiếng Hàn)

  • Phạm vi mở rộng của một sản phẩm được chỉ định: Hệ thống bơm nhiệt đa năng, Động cơ cảm ứng 3 pha;
  • Nâng cao hiệu quả tiêu chuẩn và: Máy điều hòa không khí, máy bơm nhiệt nguồn không khí, hệ thống bơm nhiệt đa năng, tủ lạnh thương mại, động cơ cảm ứng 3 pha;
  • Sửa đổi phương pháp thử: máy điều hòa không khí, máy bơm nhiệt nguồn không khí, bộ điều hợp và bộ sạc.

Mục đích của việc ban hành quy định này nhằm thông tin cho người tiêu dùng, và đảm bảo việc ghi nhãn; Bảo vệ môi trường.

Ngày dự kiến có hiệu lực: 01 tháng 10 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Đài Loan về ghi nhãn thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/312 ngày 15/12/2017, Đài Loan thông báo ban hành Dự thảo Quy định về ghi nhãn cho thực phẩm (1 trang, bằng tiếng Anh, 2 trang, tiếng Trung)

Căn cứ vào các quy định tại khoản 10 khoản 1 Điều 22 của Luật Quản lý An toàn Thực phẩm và Vệ sinh, Bộ Y tế và Phúc lợi đề xuất công bố yêu cầu ghi nhãn của thực phẩm đóng gói sẵn có chứa chất gây dị ứng. Các sản phẩm như vậy sẽ được ghi nhãn với thông tin cảnh báo để cung cấp cho người tiêu dùng quyền lựa chọn.

Mục đích của việc ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn.

Ngày dự kiến có hiệu lực: Ngày 1 tháng 7 năm 2019

Thông báo của Hoa Kỳ về gia cầm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/USA/1327 ngày 09/01/2018, Hoa Kỳ thông báo ban hành Chương trình hữu cơ quốc gia (NOP); Chăn nuôi hữu cơ và thực hành gia cầm – Sự lấy ra (5 trang, bằng tiếng Anh)

Quy tắc đề xuất này nhằm đặt ra quy tắc cho ý tưởng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA hoặc Bộ) thu hồi Quy tắc cuối cùng của Quy chế thực hành Chăn nuôi gia súc và gia cầm (OLPP) được xuất bản vào Đăng bạ Liên bang vào ngày 19 tháng 1 năm 2017 bởi Sở Dịch vụ Tiếp thị Nông nghiệp của USDA (AMS). Quy tắc cuối cùng của OLPP đề cập đến việc sửa đổi các yêu cầu về chăn nuôi gia súc và gia cầm trong các quy định hữu cơ của USDA bằng cách bổ sung các điều khoản mới về chăn nuôi gia súc, vận chuyển giết mổ và điều kiện sống của gia cầm; và mở rộng và làm rõ các yêu cầu hiện tại bao gồm các hoạt động chăm sóc và sản xuất chăn nuôi và điều kiện sống động vật có vú. Quy tắc cuối cùng của OLPP ban đầu được đặt ra có hiệu lực vào ngày 20 tháng 3 năm 2017. Ngày có hiệu lực đã được gia hạn đến ngày 14 tháng 5 năm 2018 theo các hành động riêng biệt.

Mục đích ban hành quy định này nhằm ngăn chặn các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng là ngày 17/1/2018.

(Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

 

THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Hướng dẫn chi tiết Luật an toàn thực phẩm

*******

Ngày 02 tháng 02 năm 2018 Chính phủ vừa ban hành Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật An toàn thực phẩm.

Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm về: Thủ tục tự công bố sản phẩm; Thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm; Bảo đảm an toàn thực phẩm biến đổi gen; Cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu; Ghi nhãn thực phẩm; Quảng cáo thực phẩm; Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe; Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng phụ gia thực phẩm; Truy xuất nguồn gốc thực phẩm; Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam.

Tại Nghị định 15/2018  nêu rõ sản phẩm nào doanh nghiệp được tự công bố, những sản phẩm nào bắt buộc phải đăng ký bản công bố, cụ thể:

Các sản phẩm thực phẩm được phép tự công bố bao gồm:

Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm; trừ các sản phẩm sau đây: Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ sản xuất nội bộ mà không đưa ra thị trường trong nước thì được miễn thủ tục tự công bố;

Các sản phẩm phải đăng ký bản công bố sản phẩm:

– Thực phẩm bảo vệ sức khỏe,thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt;

– Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi;

Phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia không thuộc trong danh mục phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quyết định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 02 năm 2018.

 

Những điểm mới của Nghị định số 09/2018/NĐ-CP về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa

*******

Ngày 15/01/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật quản lý Ngoại thương  về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Nghị định có hiệu lực áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, so với Nghị định 23/2007/NĐ-CP thì đối tượng áp dụng của Nghị định 09/2018/NĐ-CP rộng hơn, bao gồm cả chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài.

Tại Nghị định đã liệt kê cụ thể các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp, bao gồm 10 hoạt động (Khoản 1 Điều 3 Nghị định 09/2018/NĐ-CP).

Nghị định còn quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục để nhà đầu tư được cấp Giấy phép kinh doanh và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ.

Đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương, Giấy phép kinh doanh, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa trước ngày 15/01/2018 thì tiếp tục thực hiện các hoạt động theo hiệu lực của các giấy tờ đã được cấp mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ.

Ngoài ra Nghị định 09/2018/NĐ-CP có nhiều điểm mới tiến bộ hơn và cũng đã giải thích rõ ràng hơn  về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bên cạnh đó nhiều điềm mới theo hướng thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi thực hiện các hoạt động kinh doanh  liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa:

  1. Đối với lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bán buôn thì không phải làm giấy phép kinh doanh  trừ trường hợp sản phẩm là dầu mỡ bôi trơn theo quy định tại điểm b khoản 4 điều 9;
  2. Đối với hoạt động bán lẻ phải xin giấy phép kinh doanh Sở Công thương cấp và chỉ xin ý kiến Bộ Công thương đối với sản phẩm gạo; đường; vật phẩm đã ghi hình, sách báo và tạp chí, xem xét cấp phép thực hiện quyền phân phối bán lẻ dưới hình thức siêu thị, siêu thị mini, cửa hàng tiện lợi;
  3. Thẩm quyền cấp giấy phép thuộc Sở Công thương;
  4. Các lĩnh vực liên quan đối với hoạt động mua bán hàng hóa khác đều phải có giấy phép kinh doanh và phải hỏi ý kiến Bộ Công thương;
  5. Chỉ trường hợp bán lẻ liên quan đến dầu mỡ bôi trơn theo  điểm c khoản 1 điều 5 thì mới hỏi ý kiến bộ chuyên ngành;
  6. Thời gian tiến hành rút ngắn còn 10 ngày đối với trường hợp không phải hỏi ý kiến bộ công thương và bộ chuyên nghành, trong trường hợp  hỏi ý kiến thời gian giải quyết là 28 ngày, theo nghị định 23/2007/NĐ-CP tổng thời gian 45 ngày như vậy đã giảm được 17 ngày;

Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2018 và thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP.

Quy định mới về hoạt động thương mại của cư dân biên giới

*******

Ngày 23 tháng 01 năm 2018 Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới, trong đó quy định cụ thể về hoạt động thương mại biên giới của thương nhân và mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới.

Nghị định quy định thương nhân được thực hiện hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới là thương nhân Việt Nam, bao gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Thương nhân có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới theo cam kết của các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cửa khẩu biên giới thực hiện hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Quản lý ngoại thương.T

Trường hợp hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới thực hiện qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, UBND tỉnh biên giới quyết định, công bố Danh mục các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới được phép thực hiện hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa sau khi trao đổi, thống nhất với các bộ, ngành liên quan về việc đảm bảo có đủ lực lượng kiểm tra, kiểm soát chuyên ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước.

Nghị định quy định rõ hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới của thương nhân phải tuân thủ quy định của Luật Quản lý ngoại thương và các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.

Hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới của thương nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật, điều ước quốc tế về kiểm dịch y tế; kiểm dịch động vật, thực vật, kiểm dịch thủy sản; kiểm tra chất lượng hàng hóa; kiểm tra về an toàn thực phẩm.

Thương nhân hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật và được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Hàng hóa xuất khẩu dưới hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân quy định tại Nghị định này được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.Thuế, phí và lệ phí trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Nghị định quy định hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới được thực hiện qua các cửa khẩu, lối mở biên giới như các thương nhân.

Hàng hóa của cư dân biên giới là hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam hoặc nước có chung biên giới do cư dân biên giới mua bán, trao đổi ở khu vực biên giới hai nước để phục vụ các nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của cư dân biên giới. Bộ Công Thương ban hành Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới.

Cư dân biên giới mua bán, trao đổi hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới do Bộ Công thương ban hành theo quy định được hưởng định mức miễn thuế theo quy định tại Phụ lục V, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Phần giá trị hàng hóa vượt định mức quy định ở trên phải chịu thuế nhập khẩu và các loại thuế, phí khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Nghị định nêu rõ, hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không phải thực hiện kiểm dịch y tế, trừ trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông báo có dịch bệnh truyền nhiễm, nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra thì phải kiểm dịch y tế.

Hàng hóa thuộc diện phải kiểm dịch động vật, thực vật và kiểm dịch thủy sản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố trong từng thời kỳ phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luật.

Hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không phải kiểm tra, kiểm soát về chất lượng, an toàn thực phẩm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23 tháng 01 năm 2018./.

 (Nguyễn Thị Thắng)

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Quy định nhập khẩu gạo vào Úc

*******

Là một quốc đảo có ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, các quy định kiểm dịch của Úc rất chặt chẽ.

Tất cả các loại thực vật nhập khẩu, cho dù tươi hoặc không, hoặc những phần của cây cối như quả, hạt, cành, củ… cũng như gỗ và tất cả những vật phẩm làm từ gỗ, tre đều phải được kiểm dịch và phải chuyển đến cơ quan kiểm dịch thực vật. Những sản phẩm nhập khẩu bị phát hiện có nhiễm khuẩn sẽ phải được xử lý, tiêu hủy hoặc gửi trả lại bằng chi phí của chủ hàng. Một số loại cây cảnh, hạt, rau quả tươi, phải được cấp phép trước khi nhập khẩu.

 Dưới đây là phần tóm tắt quy định chính về kiểm dịch đối với mặt hàng gạo. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam nên cập nhật những quy định mới nhất trước khi xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Úc. Những thay đổi đối với các quy định kiểm dịch do Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước của Úc thông báo tại chuyên mục Cảnh báo các điều kiện nhập khẩu liên quan đến an toàn sinh học trên trang web: https://bicon.agriculture.gov.au/BiconWeb4.0/

 Hệ thống cảnh báo các điều kiện nhập khẩu đăng tải các thông báo về những vấn đề hiện tại và những thay đổi lớn đối với các quy định về nhập khẩu. Hệ thống này bao gồm các điều kiện nhập khẩu đối với hơn 20.000 thực vật, động vật, vi khuẩn, khoáng sản và các sản phẩm từ con người. Các thông tin này thường xuyên được cập nhật.

 Điều kiện nhập khẩu đối với mặt hàng gạo:

  1. Không yêu cầu giấy phép nhập khẩu của Bộ Nông Nghiệp và Nguồn nước.
  2. Các quy định này áp dụng đối với các lô hàng sản phẩm gạo trắng hoặc gạo lứt đã được xử lý và đóng gói thương mại cho con người sử dụng. Các sản phẩm gạo này phải được xử lý và đóng gói để đảm bảo sự bảo quản ổn định ở nhiệt độ phòng ít nhất là 6 tháng. Nếu các sản phẩm không đáp ứng được các yêu cầu này thì có thể sẽ phải nộp giấy phép nhập khẩu. Các nhà nhập khẩu có thể liên hệ với nhóm dịch vụ để hỏi thêm thông tin cần thiết:

+ Import Services Team

+ Phone: 1800 900 090

+ Email: imports@agriculture.gov.au

iii.    Mặt hàng này phải được xử lý và đóng gói thương mại.

  1. Các sản phẩm gạo phải được làm chín thương mại, bảo quản ổn định và đặt vào trong các thùng hàng kín như là:

+ Hộp kim loại

+ Lọ thủy tinh hoặc chai có nắp vặn

+ Thùng nhựa được niêm phong ở nắp

+ Thùng cac-ton vô trùng

+ Túi đóng gói vô trùng (retort)

+ Đóng hộp

  1. Lô hàng phải được xử lý và đóng gói thương mại; niêm phong kín, vô trùng và bảo quản ổn định ít nhất 6 tháng. Các nhà nhập khẩu phải đưa ra được tờ khai của nhà sản xuấthóa đơnvận đơnvận đơn hàng khôngdanh sách chi tiết sản phẩm hoặc nhãn hàng hóa thực phẩm (các quy định chi tiết có thể tham khảo thêm ở phần Phụ lục). Cần đưa ra bằng chứng rằng hàng hóa đã được:

+ Xử lý và đóng gói thương mại

+ Được đưa vào trong các thùng kín có niêm phong và bảo quản ở nhiệt độ phòng ít nhất 6 tháng.

  1. Những sản phẩm này chỉ được sử dụng cho con người và không được bán hay sử dụng để làm thức ăn cho gia súc hay các mục đích nông nghiệp.

 vii.    Một khi các yêu cầu an toàn sinh học đã được đáp ứng, các nhà nhập khẩu có trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả các thực phẩm nhập khẩu tuân thủ Đạo luật Kiểm soát nhập khẩu thực phẩm năm 1992.

(Cảnh báo và Thông báo thông tin)

 Các tiêu chuẩn về ghi nhãn và thành phần của tất cả các loại thực phẩm được bán ở Úc được qui định trong Bộ Luật Tiêu chuẩn Thực phẩm Úc – New Zealand. Các nhà nhập khẩu phải có trách nhiệm tuân thủ các luật và đảm bảo thực phẩm nhập khẩu đáp ứng các yêu cầu của Bộ Luật Tiêu chuẩn Thực phẩm và bất kỳ tiêu chuẩn hoặc yêu cầu có liên quan của Úc. Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước giám sát mối nguy cơ an toàn thực phẩm và sự phù hợp với Bộ Luật Tiêu chuẩn Thực phẩm bằng phương tiện của Chương trình Kiểm Tra Thực phẩm. Thông tin thực phẩm được dẫn chiếu như thế nào trong chương trình này và phương pháp thử nghiệm nào được áp dụng đối với thực phẩm nhập khẩu có thể xem tại địa chỉ web sau:

 http://www.agriculture.gov.au/import/goods/food/inspection-compliance/inspection-scheme

 Theo Chương trình này, thực phẩm có thể bị giữ lại để kiểm tra và thử nghiệm. Việc kiểm tra sẽ bao gồm đánh giá trực quan và đánh giá trên nhãn và cũng có thể bao gồm việc lấy mẫu thực phẩm để xét nghiệm.)

   viii.  Theo quy định về áp dụng các loại phí an toàn sinh học 2016 và Phần 2, Chương 9 của quy định an toàn sinh học 2016, tất cả các phí dịch vụ có thể được trả cho Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước. Danh sách chi tiết tất cả các loại phí được áp dụng có thể xem tại địa chỉ web sau:

 http://www.agriculture.gov.au/fees/charging-guidelines

  1. Các yêu cầu về thông tin phi hàng hóa đối với hàng hóa nhập khẩu cũng được áp dụng, xin vui lòng tham khảo các trường hợp này tại địa chỉ web sau:

 https://bicon.agriculture.gov.au/BiconWeb4.0/ImportConditions/Questions/EvaluateCase?elementID=0000088555&elementVersionID=59

(Cảnh báo và Thông báo thông tin)

Bao bì, kệ hàng hoặc các vật chèn lót bằng gỗ gắn với lô hàng có thể bị kiểm tra và xử lý tại cửa đến, trừ khi có bằng chứng đầy đủ về việc xử lý được Bộ Nông nghiệp chấp nhận.

 Tất cả các tài liệu trình cho Bộ Nông nghiệp để hỗ trợ việc xác định mức độ rủi ro sinh học trong quá trình vận chuyển và đóng gói phải đáp ứng yêu cầu của các trường hợp phi hàng hoá.)

Thông tin về các quy định, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đang áp dụng khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Nhật Bản

*******

Về cơ bản hàng hóa nước ngoài được tự do nhập khẩu vào Nhật Bản. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản cũng quy định một số danh mục hàng hóa bị cấm nhập khẩu, hạn chế nhập khẩu và danh mục hàng hóa cần được cấp phép hoặc kiểm tra khi nhập khẩu.

Giấy phép nhập khẩu được yêu cầu đối với một số hàng hoá nhất định, bao gồm: các vật liệu nguy hiểm, động vật, thực vật, các chất dễ hư hỏng; và trong một số trường hợp cụ thể khác, là các mặt hàng có giá trị cao. Quy định cấp phép chỉ áp dụng đối với các mặt hàng bị kiểm soát hạn ngạch nhập khẩu, bao gồm một số sản phẩm cá và các chất bị kiểm soát được liệt kê trong Nghị định thư Montreal.

Luật Nhật Bản yêu cầu chứng nhận và ghi nhãn sản phẩm, cụ thể là: nhãn sản phẩm cho hàng dệt, thiết bị và dụng cụ điện, sản phẩm nhựa và hàng gia dụng và hàng tiêu dùng. Đối với hầu hết các mặt hàng nhập khẩu không bắt buộc phải ghi nhãn quốc gia, trừ một số loại đồ uống và thực phẩm đòi hỏi phải dán nhãn và đánh dấu thông tin thành phần chi tiết. Các nhãn giả; hoặc, gây hiểu nhầm hiển thị tên (hoặc cờ) quốc gia khác với nước xuất xứ; hoặc, tên của nhà sản xuất (hoặc tên nhà thiết kế bên ngoài nước xuất xứ) là không được phép nhập khẩu vào Nhật bản. Các luật chính quy định các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm tại Nhật Bản, bao gồm: (1) Luật về Thiết bị điện và Luật An toàn Vật liệu; (2) Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng; (3) Luật Tiện ích khi đốt Công nghiệp; (4) Luật Vệ sinh Thực phẩm; (5) Luật Dược phẩm; (6) Luật Giao thông đường bộ; (7) Luật Tiêu chuẩn Xây dựng.

Tiêu chuẩn các sản phẩm xuất khẩu vào thị trường sở tại bắt buộc là phải qua kiểm tra sản phẩm và không thể bán ở Nhật mà không có chứng nhận tuân thủ các tiêu chuẩn quy định, được chia thành hai loại hình: các quy định kỹ thuật (hay còn gọi là các tiêu chuẩn bắt buộc) và các tiêu chuẩn tự nguyện (không bắt buộc). Việc tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn được quản lý bởi hệ thống chứng nhận trong đó kết quả kiểm tra xác định có chấp thuận hay không (chứng nhận / chất lượng). Hai cơ quản lý đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động thiết lập tiêu chuẩn ở Nhật Bản, đó là: (1) Ủy ban Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS). (2) Ủy ban Tiêu chuẩn Nông nghiệp Nhật bản (JAS). Các nhà xuất khẩu có ý định thâm nhập vào thị trường Nhật Bản cần có được các dấu chứng nhận JIS, JAS hoặc Ecomark cũng như chế độ xác nhận trước về thực phẩm nhập khẩu các loại khác cho sản phẩm của mình để đảm bảo rằng các sản phẩm này đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu tại thị trường Nhật Bản, từ đó dễ dàng cho việc tiêu thụ hàng hóa. Hơn nữa, thực tế cho thấy nếu chất lượng của một sản phẩm đã được thị trường Nhật Bản chấp thuận thì sản phẩm đó hoàn toàn có thể cạnh tranh tốt được ở các thị trường khác.

Trong khi theo đuổi chính sách mậu dịch tự do, Nhật Bản vẫn có cơ chế bảo hộ ngành sản xuất trong nước một cách hiệu quả. Thay cho những biện pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất nhập khẩu cao, Nhật Bản đã sử dụng các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do chính đáng như bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành động thương mại không lành mạnh, bảo vệ sức khỏe con người, kiểm soát chất lượng, môi trường, quy định về an toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm soát dịch bệnh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hóa, v.v…

(Lê Thành Kông)

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Chúng tôi là công ty chuyên xuất khẩu mặt hàng thực phẩm các loại. Chúng tôi được biết Nam Phi là một thị trường tiềm năng trong việc tiêu thụ các loại mặt hàng này. Xin cho biết quy định về nhãn mác hàng hóa đối với mặt hàng thực phẩm, bao gồm thực phẩm biến đổi gen, được nhập khẩu vào Nam Phi?

Trả lời: Nhãn sản phẩm đối với mặt hàng thực phẩm phải được in bằng ít nhất một trong các ngôn ngữ chính thức tại Nam Phi, thông thường là tiếng Anh, phải cung cấp các thông tin sau:

– Tên sản phẩm

– Tên và địa chỉ của nhà sản xuất, đóng gói, người bán, người nhập khẩu, hoặc tổ chức mà sản phẩm thực phẩm được đóng gói

– Chỉ dẫn về điều kiện bảo quản đặc biệt, nếu có

– Nước xuất xứ của sản phẩm

Để biết thêm chi tiết, có thể t ham khảo Luật Thực phẩm, Mỹ phẩm và Tẩy trùng 1972 (the “ Foodstuffs, Cosmetics and Disinfectants Act of 1972: Regulations Relating to labelling and Advertising of Foodstuffs” tại website: http://www.health.gov.za).

Đối với mặt hàng thực phẩm biến đổi gen, tháng 01 năm 2004, Chính phủ Nam Phi ban hành quy định bắt buộc phải ghi nhãn sản phẩm thực phẩm biến đổi gen trong một số trường hợp nhất định, đặc biệt là trường hợp có thể gây dị ứng hoặc có chứa protein động vật, hoặc khi sản phẩm biến đổi gen đó có khác biệt lớn so với sản phẩm không biến đổi gen. Quy định về nhãn mác cho thực phẩm biến đổi gen và thực phẩm chứa thành phẩm là sản phẩm biến đổi gen có thể tham khảo tại Quy định về Nhãn mác đối với Thực phẩm biến đổi gen (Regulations Relating to the Labeling of Foodstuffs Obtained Through Certain Techniques of Genetic Modification) xuất bản trên Công báo Government Gazette No 25908 (January 16,2004).

******************

Hỏi: Chúng tôi là công ty chuyên xuất khẩu mặt hàng dệt may. Xin cho biết một số thông tin về thị hiếu, tình hình sản xuất, kinh doanh đối với mặt hàng dệt may tại Nam Phi?

Trả lời: Từ năm 1994, Chính phủ Nam Phi đã dành tới 1 tỷ USD để nâng cấp và cải thiện ngành công nghiệp may mặc, quần áo và giày dép trong nước, tăng tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, hiện nay, quy mô ngành dệt may của Nam Phi vẫn còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Ngành công nghiệp dệt may của Nam Phi có thể được chia thành các lĩnh vực như sản xuất sợi thiên nhiên và nhân tạo, se sợi, dệt, đan, nhuộm và hoàn thiện sản phẩm.

Nam Phi hiện có khoảng gần 2 000 công ty sản xuất hàng dệt may trong đó ngành dệt có trên 400 nhà máy lớn. Mỗi năm, ngành dệt may Nam Phi sản xuất trung bình lượng vải dệt trị giá khoảng 1,76 tỉ USD và sản lượng quần áo may từ nguồn vải này đạt 191 triệu đơn vị.

Ngành dệt may Nam Phi đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu. Các nhà máy trong nước năng suất thấp hơn và không thể cạnh tranh về giá với hàng ngoại nhập khiến cho nhiều nhà máy phải đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất. Hàng dệt may nhập khẩu chiếm tới 80% thị phần hàng dệt may tại Nam Phi.

Hiện nay, Nam Phi không áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu và Nam Phi cũng tuân theo các Hiệp định Thương mại Tự do với EU, SADC, Zimbabwe, để áp thuế cho mặt hàng dệt may cũng như các mặt hàng khác. Tùy theo từng Hiệp định mà Nam Phi ký kết sẽ áp mức thuế khác nhau, tuy nhiên, mức thuế chung là từ 20% đến 60%.

Các sản phẩm dệt may tại thị trường Nam Phi được tiêu thu theo mầu da, tầng lớp người tiêu dùng và thị hiếu tiêu thụ. Người da đen (chiếm tới 73% dân số) thích mặc những loại quần áo rẻ tiền, chủ yếu là quần bò, áo bò, áo phông, áo thu,… và ưa chuộng chất liệu bền. Họ thích mầu mè, đặc biệt là những màu đậm. Người da trắng (chỉ chiếm 13% dân số) chuộng phong cách châu Âu, thích tông màu thanh nhã. Giới trẻ ăn mặc theo xu hướng thời trang. Người da mầu (chủ yếu là gốc người Ấn Độ) có kiểu ăn mặc riêng. Nhìn chung, dân Nam Phi da trắng cũng như da đen thích mặc quần bò, áo phông. Họ không câu nệ và quá chăm chút tới ăn mặc, trừ số ít tầng lớp lao động trí thức văn phòng. Những ngày thứ sáu nhân viên đi đến trụ sở trong bộ đồ thông thường (casual).

Ngoài ra, hàng dệt may của Nam Phi còn được phân loại theo mùa và theo vùng. Khí hậu Nam Phi được chia làm hai mùa: mùa đông và mùa hè. Mùa hè rõ nét nhất từ tháng 12 đến tháng 2. Thời tiết bán ôn đời, nóng ban ngày nhưng lạnh vào ban đêm. Điều này, khiến tầng lớp ít tiền (chủ yếu là người da đen) muốn mua một chiếc áo ấm để có thể khoác ban ngày và đủ ấm để mặc vào ban đêm Mùa đông thời tiết lạnh hơn, ban ngày nhiệt độ có thể xuống tới 14°C, tốikhoảng -1°C. Tuy nhiên, đa phần lãnh thổ Nam Phi không có tuyết do khí hậu khô. Yếu tố thời tiết ảnh hưởng rất nhiều tới chủng loại hàng may mặc. Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam sang Nam Phi đạt khoảng 17,3 triệu USD, tăng gần 20% so với năm 2012 (đạt khoảng 14,5 triệu USD).

Việc nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng của người dân, cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh tại Nam Phi chắc chắn sẽ góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu về hàng dệt may của đất nước có trên 49 triệu dân này.

******************

Hỏi: Chúng tôi là công ty chuyên xuất nhập khẩu các mặt hàng về nông sản. Xin cho biết một số thông tin về lĩnh vực nông nghiệp của Nam Phi?

Trả lời: Nam Phi có nền nông nghiệp chia thành 2 khu vực rõ rệt: Nông nghiệp trang trại và nông nghiệp hộ gia đình. Nông nghiệp đóng góp 2% GDP, tạo ra 638 nghìn việc làm và 8,5 triệu người trong các hộ gia đình. Tổng diện tích Nam Phi là 1,2 triệu km2, bằng 1/8 diện tích nước Mỹ với 7 vùng khí hậu khác nhau, từ khí hậu địa trung hải đến khí hậu cận nhiệt đới và khí hậu bán sa mạc 12% diện tích đất có thể canh tác, trong đó 22% là đất tốt. Hạn chế lớn nhất là thiếu nước tưới. Mưa phân bố không đều với lượng mưa thất thường 1,3 triệu ha đất có hệ thống tưới tiêu và 50% lượng nước của Nam Phi được dành cho nông nghiệp Nam Phi xuất khẩu ngô, cam, nho, táo, rượu vang, đường, cồn ê-ti-len, da sống và da thuộc.

Ngô là cây lương thực chính Nam Phi là nước sản xuất ngô chính trong khối Cộng đồng Phát triển Miền Nam Châu Phi (SADC). Có hơn 9 000 trang trại trồng ngô thương mại, tập trung tại các tỉnh North West, the Free State, the Mpumalanga Highveld và the KwaZulu-Natal Midlands. Diện tích trồng ngô năm 2014 khoảng 2,7 triệu ha, năng suất bình quân 5,04 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 13,6 triệu tấn. Trong năm 2013, Nam Phi xuất khẩu được 764 triệu USD đối với mặt hàng ngô. Trong đó, Nhật Bản là đối tác lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này là 196 triệu USD, tiếp theo là Mexico đạt 96 triệu USD, Zimbabwe đạt 79 triệu USD, Việt Nam là 5 triệu USD,…

Lúa mỳ được trồng ở các vùng mưa nhiều tại tỉnh Western Cape và phía đông tỉnh the Free State. Lúa mạch được trồng ở vùng ven biển tỉnh Western Cape Cao lương được trồng ở các tỉnh Mpumalanga, the Free State, Limporo, North West và Gauteng. Diện tích trồng lúa mỳ năm 2013 là 505.000 ha trong đó 138.000 ha có hệ thống tưới (27,3%), 367.000 ha không có hệ thống tưới (72,7%). Năng suất bình quân đạt 6,13 tấn/ ha đối với diện tích được tưới nước và 2,46 tấn/ha đối với diện tích không được tưới nước. Sản lượng đạt 1,7 triệu tấn trong đó 800.000 tấn (48,3%) thu hoạch từ diện tích không được tưới nước, 900.000 tấn (51,7%) thu hoạch từ diện tích được tưới nước.

Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Nam Phi đạt 76 triệu USD, trong đó đối tác nhập khẩu lớn nhất là Botswana với 32 triệu USD, tiếp theo là Lesotho đạt 27 triệu USD, … Về nhập khẩu, Nam Phi nhập khẩu tới 417 triệu USD với mặt hàng lúa mỳ trong năm 2013, trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ Ukraine với 128 triệu USD, sau đó là Nga đạt 72 triệu USD, Braxin đạt 61 triệu USD,…

Nam Phi đứng thứ 10 thế giới về sản lượng hạt hướng dương. Hạt hướng dương được trồng ở các tỉnh the Free State, North West, the Mpumalanga Highveld và Limpopo. Diện tích trồng hạt hướng dương năm 2014 khoảng 600.000 ha, năng suất bình quân đạt 1,42 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 850.000 tấn.

Lạc được trồng ở các tỉnh Free State, North West và the Northern Cape. Diện tích trồng lạc năm 2014 khoảng 50.000 ha, năng suất bình quân đạt 1,72 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 90.000 tấn.

Diện tích trồng đậu tương năm 2014 khoảng 500 000 ha, năng suất bình quân đạt 1,78 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 900.000 tấn.

Diện tích trồng cao lương năm 2014 khoảng 80 000 ha, năng suất bình quân đạt 2,96 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 250.000 tấn.

Diện tích trồng đỗ đậu các loại năm 2014 khoảng 55 000 ha, năng suất bình quân đạt 1,59 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 90.000 tấn.

Diện tích trồng cải dầu năm 2014 khoảng 70 000 ha, năng suất bình quân đạt 1,55 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 110.000 tấn.

Nam Phi đứng thứ 13 thế giới về sản xuất đường Sản lượng đường của Nam Phi khoảng 2,5 triệu tấn/năm, 50% được tiêu thụ trong khối các nước miền Nam châu Phi, còn lại xuất khẩu sang các nước châu Phi khác, Trung Đông, Bắc Mỹ và châu Á Mía được trồng tại 15 khu vực từ Bắc Pondoland tại tỉnh the Eastern Cape đến vùng ven biển và trung du của KwaZulu – Natal và Mpumalanga Lowveld. Sản lượng mía năm 2014 dự kiến đạt 20 triệu tấn.

Trái cây được trồng tập trung ở các tỉnh Western Cape và Eastern Cape. Xuất khẩu trái cây chiếm 12% tổng xuất khẩu nông sản Cam được trồng nhiều nhất sau đó đến dứa, xoài, chuối, vải, ổi,…

Nam Phi đứng thứ 9 thế giới về sản xuất rượu nho, có hơn 300 triệu gốc nho với tổng diện tích hơn 110.000 ha. Hơn 4.000 xưởng sản xuất rượu vang ( 84% thuộc các hợp tác xã) tạo việc làm cho hơn 60.000 người Nam Phi xuất khẩu khoảng 350 triệu lít rượu vang/năm

Khoai tây được trồng tại các tỉnh Mpumalanga Limpopo, the Eastern Western và Northern Cape, KwaZulu – Natal Khoai tây tạo ra 40% thu nhập của nông dân.

Cà chua được trồng tại các tỉnh Mpumalanga, the Western Cape và Free State.

Bắp cải được trồng tại các tỉnh Mpumalanga, KwaZulu – Natal.

Cà chua, hành, ngô ngọt tạo ra 38% thu nhập của nông dân.

Bông được trồng tại các tỉnh Mpumalanga Limpopo, Northern Cape, KwaZulu – Natal và North West Bông cung cấp 74% nguyên liệu sợi tự nhiên và chiếm 42% tổng số nguyên liệu sợi của Nam Phi 75% sản lượng bông được thu hoạch bằng tay. Diện tích trồng bông khoảng 40.000 ha, sản lượng khoảng 30.000 tấn bông và 45.000 tấn hạt.

Thuốc lá Viginia được trồng tại các tỉnh Mpumalanga, Limpopo. Hơn 1.000 trang trại thuốc lá với diện tích 24.000 ha, sản xuất khoảng 34 triệu kg nguyên liệu thuốc lá/năm.

Chè Honeybush được trồng tại các tỉnh Eastern Cape và Western Cape. Diện tích khoảng 230 tấn, sản lượng khoảng 150 tấn/năm Nam Phi đặt mục tiêu 1 500 tấn vào năm 2021. Chè Rooibos sản xuất từ 1 loại dược liệu là đặc sản của Nam Phi.

Cây cảnh và hoa xuất khẩu tập trung tại các tỉnh Limpopo, Mpumalanga và Gauteng. Xuất khẩu hoa họ protea của Nam Phi chiếm hơn 50% thị trường thế giới.

Chăn nuôi là ngành nông nghiệp lớn nhất của Nam Phi, với 13,8 triệu con trâu bò và 28,8 triệu con cừu.

Nam Phi có 4.000 trại bò sữa với 60.000 lao động trực tiếp và 40.000 lao động gián tiếp Nam Phi có 4 giống bò sữa: Holstein, Jersey, Guernsey và Ayrshire.

Sản lượng thịt bò Nam Phi đáp ứng 85% nhu cầu trong nước và 15% nhập khẩu từ Namibia, Botswana, Swaziland, Australia, New Zealand và EU Chăn nuôi bò tập trung ở các tỉnh Eastern Cape, Free State, KwaZulu – Natal, Limpopo và Northern Cape. Nam Phi có các giống bò bản địa Afrikaner và Nguni, bò chọn lọc Bonsmara và Drakensberger, bò Âu-Mỹ Charolais, Hereford, Angus, Simmentaler, Sussex, Brahman và Santa Gertrudis.

Chăn nuôi dê cừu tập trung ở các tỉnh Norther và Eastern Cape, Western Cape, Free State và Mpumalanga Khu vực Ermelo tại tỉnh Mpumalanga là trung tâm lông cừu lớn nhất Nam Phi. 50% đàn cừu là giống Merinos lông mịn. Dê chủ yếu là giống Dorper năng suất cao.

Chăn nuôi gà, lợn tập trung hơn, chủ yếu tại các thành phố lớn tại Gauteng, Durban, Pietermaritzurg, Cape Town và Port Elizabeth Sản lượng gà khoảng 960.000 tấn/năm.

Nam Phi cung cấp 65% thịt, da, lông đà điểu cho thị trường thế giới Nam Phi đứng đầu thế giới về kinh doanh chăn nuôi thú hoang dã.

 (Nguyễn Thị Thắng)

Facebook Comments