Bản tin TBT Tháng 3/2018

Post by: admin - Post date: Sunday, Mar 25, 2018 | 2:00 - View count: 52

TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Nhật Bản về Luật vệ sinh thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/582  ngày 16/01/2018, Nhật Bản thông báo Quyết định Sửa đổi Đạo Luật Vệ Sinh Thực Phẩm. (1 trang, tiếng Anh), áp dụng đối với Đồ đựng, bao bì và bao bì thực phẩm và phụ gia thực phẩm.

Quyết định này cải tiến các quy định vệ sinh áp dụng đối với đồ dùng, đồ đựng và bao bì cho thực phẩm và các chất phụ gia thực phẩm có xem xét tính nhất quán của quốc tế. Để minh bạch hơn, bản sửa đổi này cũng được thông báo qua thông báo SPS.

Mục đích của việc sửa đổi này nhằm ngăn ngừa nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng theo Đạo luật vệ sinh thực phẩm.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 4 – Tháng 7 năm 2018

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của Ác-hen-ti-na về sản phẩm vệ sinh trong gia đình

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARG/330  ngày 30/01/2018, Ác-hen-ti-na thông báo Nghị quyết ban hành quy chuẩn kỹ thuật về các sản phẩm vệ sinh trong gia đình dựa vào vi khuẩn (2 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha).

Nghị quyết Khối thị trường chung MERCOSUR GMC 63/14 quy định các Quy chuẩn Kỹ thuật MERCOSUR cho “các sản phẩm làm sạch gia đình dựa vào vi khuẩn”. Đối với mục đích đăng ký, chúng được gọi là “sản phẩm dựa vào vi sinh vật” khi mục đích sử dụng là xử lý toàn bộ hay toàn bộ hệ thống tự hoại. Chỉ những vi sinh vật đáp ứng các tiêu chí cho Nhóm nguy cơ 1 theo Phân loại Các vi sinh vật lây nhiễm của WHO theo Nhóm rủi ro sẽ được phép xây dựng các sản phẩm dựa trên vi sinh vật.

Mục đích ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ.

Ngày dự kiến thông qua: 8 tháng 1 năm 2018

 

Thông báo của Bra-xin về giám sát vệ sinh

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/785 ngày 16/01/2018, Bra-xin thông báo Nghị quyết – RDC Nº 208 – Đơn giản hóa thủ tục quan trọng đối với hàng hoá và sản phẩm chịu sự giám sát vệ sinh, ngày 5 tháng 1 năm 2018. (25 trang, tiếng Bồ Đào Nha)

Nghị quyết này thiết lập việc đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu hàng hoá và các sản phẩm phải giám sát vệ sinh.

Nghị quyết này sửa đổi Nghị quyết của Hội đồng Quản trị của các giám đốc – RDC số 46 ngày 18 tháng 5 năm 2000, số 81 ngày 5 tháng 11 năm 2008, số 58 ngày 17 tháng 12 năm 2010, số 68 ngày 28 tháng 3 năm 2003 và số 204 ngày 6 tháng 7 năm 2005 nhằm mục đích đơn giản hoá thủ tục nhập khẩu hàng hoá và sản phẩm chịu sự giám sát vệ sinh.

Nghị quyết này thay đổi Điều. 3; bao gồm trong mục 1.2 của Chương II tiểu mục 1.2.1; thay đổi mục 3.5 tiểu mục II của mục I của chương III; thay đổi mục 5 tiểu mục II của mục I của chương III; thay đổi mục 7 của Chương VII; thay đổi khoản 1 của Chương IX; thay đổi mục 1.1 của Chương IX; thay đổi mục 3.1 của Chương IX; thay đổi Chương XV; thay đổi Chương XVIII; thay đổi khoản 1 của Chương XX; thay đổi tiểu mục 1.3.1 của Chương XX; thay đổi mục 1.4 của Chương XX; thay đổi Chương XXI; thay đổi Chương XXVI; thay đổi Chương XXVIII; thay đổi mục 6 mục II của Chương XXX; thay đổi mục 10 mục IV của Chương XXX; thay đổi Chương XXXII; thay đổi Chương XXXIV; thay đổi khoản 2 của Chương XXXVII; thay đổi tiêu đề của Phần I của Chương XXXIX; thay đổi các mục 25 và 26 của Phần VI của CHƯƠNG XXXIX; thay đổi tiêu đề của Phần VII của CHƯƠNG XXXIX; thay đổi mục 29 của Phần VII của CHƯƠNG XXXIX; thay đổi khoản 33 mục VIII của CHƯƠNG XXXIX; thay đổi mục 36 Phần VIII của CHƯƠNG XXXIX; thay đổi mục 57 mục X của CHƯƠNG XXXIX của Nghị quyết của Hội đồng Quản trị của các giám đốc – RDC số 81, năm 2008.

Nghị quyết này thay đổi đoạn 2 của Điều. 6 Nghị quyết của Hội đồng Quản trị của các giám đốc – RDC số 204, ngày 6 tháng 7 năm 2005; thay đổi Điều. 17 của Nghị quyết của Hội đồng Quản trị của các giám đốc – RDC số 58, ngày 17 tháng 12 năm 2010; thay đổi nội dung và đoạn 2 của Điều. 18 của Nghị quyết của Hội đồng Quản trị của các giám đốc – RDC số 58, năm 2010.

Nghị quyết này bãi bỏ các quy định sau đây của Nghị quyết của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị – RDC số 81, ngày 05 tháng 11 năm 2008: mục 3.4 tiểu mục II phần I của Chương III; mục 5.4 mục IV của Chương XVIII; các điều 2.1 và 2.1.1 của Chương XXIV; Chương XXIX; mục 2, các điều khoản phụ 6.2 và 10.2 của Chương XXX; Chương XXXV; mục 11, các tiểu mục 11.1 và 11.2 của Chương XXXVII.

Mục đích của việc ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người.

 

Thông báo của Bra-xin về đăng ký sản phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/787 ngày 26/01/2018, Bra-xin thông báo Nghị quyết – RDC số. 212, ngày 22 tháng 1 năm 2018. Thủ tục liên quan đến xác nhận lại việc đăng ký sản phẩm và đưa ra các biện pháp khác. (1 trang, bằng tiếng Bồ Đào Nha)

Nghị quyết này thay đổi Nghị quyết – RDC số 250 ngày 20 tháng 10 năm 2004 quy định các thủ tục liên quan đến việc tái đăng ký sản phẩm và đưa ra các biện pháp khác.

Nội dung của điều. 1 và của điều. 4 của Nghị quyết – RDC số 250, ngày 20 tháng 10 năm 2004, có hiệu lực với các từ ngữ dưới đây:

“Điều 1. Việc trả lại đăng ký phải được yêu cầu trước tối đa là mười hai tháng và tối thiểu là sáu tháng kể từ ngày bắt đầu đăng ký, được xem xét tự động được khôi phục lại, bất kể quyết định đó, được đưa ra cho đến ngày chấm dứt điều đó. “

“Điều 4 Trong việc tính thời hạn yêu cầu cấp lại hồ sơ, ngày cuối cùng của thời hạn hiệu lực sẽ được coi là ngày bắt đầu đếm tạm ứng tối đa 12 tháng và tối thiểu sáu tháng trong ngày kể từ ngày đăng ký, theo các điều khoản của bài viết trước. “

Thu hồi đoạn 3 của điều. 2 của Nghị quyết – RDC số 250, 2004.

Mục đích của việc ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người.

 

Thông báo của Bra-xin về đăng ký sản phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/788 ngày 29/01/2018, Bra-xin thông báo ban hành  Quy định số 149, ngày 26 tháng 12 năm 2017 (1 trang, bằng tiếng Bồ Đào Nha).

Quy định này ban hành Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật thiết lập các tiêu chuẩn để đăng ký thuốc trừ sâu dùng cho nông nghiệp cho trồng cây cảnh, và sử dụng trong các sản phẩm đã đăng ký.

Mục đích của việc ban hành Nghị quyết này nhằm bảo vệ sức khoẻ con người và động vật; đảm bảo chất lượng sản phẩm.

 

Thông báo của Canada về sản phẩm đóng gói sẵn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CAN/543 ngày 13/02/2018, Canada thông báo Quy định sửa đổi các quy định về thực phẩm và dược phẩm (Các biểu tượng về dinh dưỡng, các điều khoản ghi nhãn khác, dầu một phần Hydrogenated và Vitamin D)(121 trang, bằng tiếng Anh và tiếng Pháp) (121 trang, bằng tiếng Anh, 121 trang, bằng tiếng Pháp), quy định này áp dụng đối với các sản phẩm đóng gói sẵn (mã ICS: 67.040, 67.230)

Các quy định đề xuất sẽ sửa đổi Quy định về Thực phẩm và Dược phẩm (FDR) để yêu cầu nhãn hàng dán trước mặt bao bì (gọi tắt là FOP) cho các sản phẩm đóng gói sẵn chứa các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khoẻ cộng đồng (natri, chất béo bão hòa và / hoặc đường) ở hoặc trên một ngưỡng nhất định giúp người Canada có thể dễ dàng nhận biết các loại thực phẩm có hàm lượng chất dinh dưỡng cao và đưa ra các quyết định đầy đủ và lành mạnh hơn. Các sửa đổi được đề xuất cũng sẽ bãi bỏ bảng các công bố và khiếu nại về hàm lượng chất dinh dưỡng được cho phép theo phần B.01.513 và đưa nó vào tham chiếu trong FDR. Làm như vậy sẽ cho phép Bộ Y tế Canada sửa đổi hiệu quả hơn các khiếu nại như vậy để đáp ứng với sự phát triển của khoa học.

Các sửa đổi đề xuất cũng làm tăng hàm lượng vitamin D trong sữa, sữa dê và bơ thực vật để giúp đưa lượng vitamin D vào của người Canada gần với khuyến cáo năm 2011 của Viện Y học Quốc gia (NAM), trước đây là Viện Y học (IOM). Quyết định cấm bán các loại thực phẩm có chứa Hydroxy hoá một phần bằng cách bổ sung các PHO vào Phần 1 của Danh mục các Chất gây ô nhiễm và các chất gây tạp chất khác trong Thực phẩm, theo Thông báo Sửa đổi: Cấm sử dụng các PHO trong Thực phẩm ( Số NOM / ADM-C-2017-3), các sửa đổi của FDR được đề xuất để đảm bảo một sự ràng buộc chặt chẽ về việc sử dụng các PHO trong thực phẩm.

Cuối cùng, để giải quyết những mâu thuẫn trong việc ghi nhãn các thực phẩm chứa chất làm ngọt có cường độ cao nhất, các sửa đổi đề xuất sẽ bãi bỏ bảng trình bày nguyên tắc bổ sung và các yêu cầu khai báo định lượng đối với thực phẩm có chứa aspartam, sucralose, acesulfame-potassium và neotame. Việc sửa đổi yêu cầu về tính dễ đọc và vị trí liên quan đến công bố phenylalanine đối với thực phẩm có chứa aspartame cũng được đề xuất để cải thiện sự nổi bật của nó trên nhãn.

Mục đích của các sửa đổi đề xuất cho FDR là:

  1. Giúp giảm nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ bằng cách cung cấp cho người tiêu dùng thông tin nhanh và dễ dàng về thực phẩm có hàm lượng natri, đường và / hoặc chất béo bão hòa giúp giảm tiêu thụ các chất dinh dưỡng này;
  2. Cho phép cập nhật hiệu quả và kịp thời các tuyên bố về các chất dinh dưỡng trong tương lai;
  3. Tăng cường vitamin D trong việc cung cấp lương thực để giúp thúc đẩy sức khoẻ xương chắc chắn của người dân Canada mà không gây nguy cơ ăn quá nhiều;
  4. Đảm bảo rằng một số định nghĩa, tiêu chuẩn thực phẩm và các quy định khác trong FDR nhất quán với lệnh cấm bán thực phẩm có chứa PHOs;
  5. Loại bỏ các yêu cầu ghi nhãn không cần thiết đối với thực phẩm có chứa chất aspartam, sucralose, acesulfame-kali và neotame, đồng thời cũng cải thiện tính dễ đọc của tuyên bố phenylalanine bắt buộc đối với thực phẩm có chứa aspartame.

Hạn góp ý cuối cùng: 26 Tháng 4 năm 2018

 

Thông báo của Chi Lê về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHL/435 ngày 19/01/2018, Chi Lê thông báo Quy định Đề xuất sửa đổi đoạn II “Ghi nhãn và quảng cáo” để điều chỉnh thông điệp lành mạnh và chức năng về thực phẩm) (9 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Các sửa đổi đề xuất được thông báo đối với các Quy định về Sức khoẻ Thực phẩm đưa ra một khung pháp lý có tính đến việc bảo vệ công chúng thông qua việc sử dụng các thông điệp thúc đẩy việc tiêu thụ một số loại thực phẩm và có liên quan đến lợi ích của thực phẩm và thành phần của chúng cho sức khoẻ của một cá nhân . Một số thông điệp hoặc mô tả về thực phẩm, được gọi là “chức năng”, không được bao gồm hoàn toàn bởi một quy định.

Mục đích của việc sửa đổi này nhằm thông tin người tiêu dùng.

 

Thông báo của Trung Quốc về dược liệu

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHN/1259 ngày 31/01/2018, Trung Quốc thông báo về Dự thảo Quy tắc Thực hành nông nghiệp tốt đối với dược liệu cổ truyền Trung Quốc (24 trang, bằng tiếng Trung).

Quy tắc Thực hành nông nghiệp tốt đối với dược liệu cổ truyền Trung Quốc là những yêu cầu cơ bản đối với việc sản xuất và kiểm soát chất lượng dược liệu của Trung Quốc, áp dụng cho toàn bộ quá trình trồng, chọn giống hoặc chăm sóc tại các doanh nghiệp dược liệu cổ truyền Trung Quốc. Dự thảo bao gồm 14 chương và 145 điều. Tiêu đề của các chương là các nguyên tắc chung, quản lý chất lượng, các tổ chức và nhân sự, dụng cụ và công cụ cơ sở, cơ sở sản xuất, v.v…. Tính ổn định và khả năng kiểm soát chất lượng trong quá trình sản xuất dược liệu của Trung Quốc là cốt lõi trong thực tiễn và khái niệm, quan niệm hiện đại, ý thứ và nguyên tắc quản lý rủi ro cũng được đưa vào toàn bộ quá trình sản xuất dược liệu của Trung Quốc.

Mục đích của Quy tắc này nhằm bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người.

Thời gian dự kiến ​​thông qua: 1 Tháng 6 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của Liên minh Châu Âu về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/539 ngày 08/02/2018, Liên minh Châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy định của Ủy ban về việc từ chối cho phép các công bố về sức khoẻ nhất định đối với thực phẩm và đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật (và phụ lục kèm theo) (4 trang + 2 trang phụ lục, bằng tiếng Anh).

Dự thảo Quy định của Ủy ban về việc từ chối cho phép các công bố về sức khoẻ nhất định đối với thực phẩm và đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật theo Điều 17 (3) của Quy định 1924/2006 của Quốc Hội và Hội đồng Châu Âu ngày 20 tháng 12 năm 2006 về các công bố dinh dưỡng và sức khoẻ được thực hiện trên thực phẩm.

Biện pháp đề xuất là Quy định của Ủy ban về ba công bố sức khoẻ như nêu ở trên trong điểm 6 đã được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đánh giá có kết quả không thuận lợi. Do đó những công bố về sức khoẻ trong Quy định của Ủy ban không tuân thủ các điều kiện quy định trong Quy định (EC) số 1924/2006 và sẽ không được phép sử dụng đối với thực phẩm.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Liên minh Châu Âu về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/540 ngày 08/02/2018, Liên minh Châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy định của Ủy ban từ chối cho phép các công bố về sức khoẻ nhất định đối với thực phẩm, ngoài các công bố về giảm nguy cơ bệnh tật và sự phát triển và sức khoẻ của trẻ (và phụ lục kèm theo) (5 trang + 3 trang phụ lục, bằng tiếng Anh).

Dự thảo Quy định của Ủy ban liên quan đến việc từ chối cho phép 7 công bố về sức khoẻ đối với thực phẩm, ngoài các công bố về giảm nguy cơ bệnh tật và sự phát triển và sức khoẻ của trẻ theo Điều 18 (5) của Quy định (EC) số 1924/2006 của Quốc Hội và Hội đồng Châu Âu ngày 20 tháng 12 năm 2006 về các công bố dinh dưỡng và sức khoẻ được đưa ra đối với thực phẩm.

Biện pháp đề xuất là Quy định của Ủy ban đối với 7 công bố về sức khoẻ như đã đề cập ở trên trong mục 6 đã được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đánh giá có kết quả không thuận lợi. Do đó các tuyên bố về sức khoẻ trong Quy định của Ủy ban không tuân thủ các điều kiện quy định trong Quy định (EC) số 1924/2006 và sẽ không được phép sử dụng đối với thực phẩm vì EFSA kết luận rằng chúng không có bằng chứng khoa học.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Liên minh Châu Âu về thiết bị điện và điện tử

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/541 ngày 08/02/2018, Liên minh Châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy định Thực hiện của Uỷ ban về việc thiết lập mẫu đăng ký và báo cáo của các nhà sản xuất thiết bị điện và điện tử và tần suất báo cáo lên cơ quan đăng ký (và phụ lục kèm theo) (4 trang + Phụ lục 13 trang tiếng Anh)

Dự thảo Quy định Thực hiện của Uỷ ban tạo ra một mẫu chung cho việc đăng ký và báo cáo của các nhà sản xuất thiết bị điện và điện tử và tần suất báo cáo chung đối với việc đăng ký.

Hài hoà các quy tắc và thủ tục được áp dụng ở cấp quốc gia thành viên.

Chỉ thị 2012/19 / EU về chất thải điện và thiết bị điện tử (WEEE) cung cấp cho các nước thành viên lập sổ đăng ký cho các nhà sản xuất thiết bị điện và điện tử (EEE), bao gồm cả các nhà sản xuất cung cấp EEE bằng phương tiện liên lạc từ xa. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mỗi nhà sản xuất, hoặc mỗi đại diện được ủy quyền, đều được đăng ký và báo cáo với cơ quan đăng ký.

Chỉ thị WEEE không bao gồm một mẫu cho đăng ký và báo cáo và không đưa ra một tần suất báo cáo chung. Điều này có nghĩa là mỗi quốc gia thành viên đã thiết lập một quy trình đăng ký và báo cáo và tần suất báo cáo. Tình huống này có thể gây gánh nặng hành chính đặc biệt đối với các nhà sản xuất cung cấp EEE bằng phương tiện liên lạc từ xa ở các quốc gia thành viên khác cũng như với các nhà sản xuất đặt EEE trên thị trường của các quốc gia thành viên khác nhau và phải đăng ký và báo cáo cho từng quốc gia thành viên sử dụng các định dạng khác nhau, và ở tần suất khác nhau.

Mục tiêu của đề xuất là đảm bảo các điều kiện thống nhất để đăng ký và báo cáo của người sản xuất. Hài hoà các mẫu đăng ký và báo cáo và tần suất báo cáo được đề cập trong Dự thảo Quy định Thực hiện.

Thời gian dự kiến ​​thông qua: Tháng 6 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của Vương quốc Anh về Mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GBR/29 ngày 01/02/2018, Vương quốc Anh thông báo Quy chế Bảo vệ môi trường (hạt nhựa siêu nhỏ) (Xứ Wales) năm 2018 (23 trang, bằng tiếng Anh) áp dụng đối với Mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân.

Dự thảo Quy chế cấm sử dụng hạt nhựa siêu nhỏ như là một thành phần trong sản xuất các sản phẩm chăm sóc cá nhân làm sạch và bán bất kỳ sản phẩm có chứa hạt nhựa siêu nhỏ.

Trong dự thảo quy định:

“hạt nhựa siêu nhỏ” có nghĩa là bất kỳ hạt nhựa cứng rắn không tan trong nước nhỏ hơn hoặc bằng 5mm ở bất kỳ kích thước nào;

“nhựa” có nghĩa là chất polyme tổng hợp có thể được đúc, ép đùn hoặc thao tác vật lý thành các dạng rắn khác nhau và giữ lại hình dáng cuối cùng được sản xuất trong quá trình sử dụng trong các ứng dụng dự định của nó;

“sản phẩm chăm sóc cá nhân làm sạch” có nghĩa là bất kỳ chất, hoặc hỗn hợp các chất, được sản xuất cho mục đích được áp dụng cho bất kỳ phần nào của cơ thể con người liên quan trong quá trình điều trị chăm sóc cá nhân, bằng một ứng dụng đòi hỏi phải hoàn thành loại bỏ sản phẩm cụ thể (hoặc bất kỳ dư lượng nào của sản phẩm) bằng cách rửa hoặc rửa bằng nước, thay vì để nó để mặc hoặc rửa, hoặc được hấp thụ hoặc đổ ra, trong quá trình thời gian;

và cho mục đích dưới đây:

(a) “phương pháp chăm sóc cá nhân” có nghĩa là bất kỳ quá trình làm sạch, bảo vệ hoặc làm thơm một bộ phận cơ thể người có liên quan, duy trì hoặc khôi phục tình trạng của nó hoặc thay đổi diện mạo của nó; và

(b) “bộ phận cơ thể người có liên quan” là:

(i) bất kỳ phần bên ngoài nào của cơ thể người (bất kỳ phần nào của lớp biểu bì, hệ thống tóc, móng tay hoặc môi);

(ii) răng; hoặc là

(iii) màng nhầy của khoang miệng.

Vi phạm một lệnh cấm là vi phạm.

Nhân viên cưỡng chế có quyền nhập cảnh để tiến hành các cuộc điều tra cần thiết để xác định xem có vi phạm hay không.

Một chế tài xử phạt dân sự được đưa ra để cho phép cơ quan quản lý thực hiện một loạt các biện pháp trừng phạt dân sự. Đây là những hình thức phạt tiền, thông báo về việc tuân thủ, ngừng thông báo và các cam kết thực thi.

Một khi lệnh cấm được đưa ra thì sẽ là một hành vi vi phạm hình sự đối với bất kỳ ai sản xuất, bán hoặc cung cấp các sản phẩm chăm sóc cá nhân hoặc các sản phẩm chăm sóc cá nhân rửa sạch có chứa hạt nhựa siêu nhỏ ở xứ Wales. Cũng có một số vi phạm liên quan, ví dụ như vi phạm việc không tuân thủ một thông báo dừng hoặc không cung cấp một số thông tin trong một khoảng thời gian hợp lý của yêu cầu bằng văn bản để làm như vậy.

Trường hợp vi phạm đã được thực hiện, cơ quan quản lý sẽ có thể áp đặt một hình phạt tiền có thể thay đổi đến mức tối đa là 20.000 bảng.

Các quy định dự thảo áp dụng cho xứ Wales, tuy nhiên, các chính quyền Vương quốc Anh đã phát triển luật này hợp tác để đảm bảo rằng định nghĩa về lệnh cấm là nhất quán. Sự khác biệt giữa xứ Wales và phần còn lại của Vương quốc Anh là trong chế độ thực thi. Chính phủ Vương quốc Anh đã hoàn thành một thông báo riêng cho các quy định áp dụng cho nước Anh (ref: G / TBT / N / GBR / 28). Cơ quan quản lý đã thất bại của Scotland và Bắc Ireland cũng đã cam kết giới thiệu lệnh cấm về vi sinh vật và sẽ đệ trình các thông báo riêng biệt theo quy trình lập pháp và thời gian riêng của họ.

Mục đích của việc ban hành quy chế này nhằm bảo vệ sức khoẻ và đời sống động vật, thực vật; Bảo vệ môi trường.

Vương quốc Anh đề nghị đưa ra luật pháp để cấm sản xuất và bán mỹ phẩm “rửa sạch” và các sản phẩm chăm sóc cá nhân có chứa hạt nhựa siêu nhỏ với lý do gây hại cho các loài sống trong môi trường biển.

Có tới 680 tấn hạt nhựa siêu nhỏ được sử dụng trong các sản phẩm mỹ phẩm được bán tại Anh hàng năm và kết quả hàng tỷ hạt nhỏ xíu vào biển của chúng ta hàng năm. Những vi sinh vật này không phân hủy sinh học và tích lũy trong môi trường biển bởi vì, sau khi được thải ra môi trường, chúng không thể phục hồi được chúng. Mặc dù quy mô chính xác của các tác động từ các vi sinh không được biết đến, nhưng có bằng chứng cho thấy vi sinh vật có thể ăn được bằng các động vật biển làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn và sinh sản.

Một số doanh nghiệp đã thực hiện hành động tự nguyện nhưng những người khác vẫn tiếp tục sử dụng hạt nhựa siêu nhỏ. Sự tham gia của ngành mỹ phẩm Anh cho thấy hơn 72% các công ty lớn sẽ ngừng bán các sản phẩm mỹ phẩm có chứa hạt nhựa siêu nhỏ vào năm 2017. Trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, có những lựa chọn phù hợp, khả thi về mặt kinh tế. Vì vậy, hạt nhựa siêu nhỏ trong mỹ phẩm là một nguồn ô nhiễm biển tránh được cần được giảm thiểu theo các lời khuyên mang tính khoa học.

Việc cấm hạt nhựa siêu nhỏ là một lệnh cấm ở Anh và ý định của các Bộ trưởng xứ Wales là vì các quy định của Wales có hiệu lực vào cùng thời điểm với phần còn lại của Vương quốc Anh vào tháng 6 năm 2018. Không có nhà sản xuất nào tại xứ Wales hiện đang sử dụng hạt nhựa siêu nhỏ, do đó, các Bộ trưởng xứ Wales đã quyết định thực hiện cả hai lệnh cấm sản xuất và bán cùng một lúc. Trong khi các nhà sản xuất xứ Wales sẽ không bị ảnh hưởng bởi một lệnh cấm sản xuất, các quy định sẽ có khung pháp lý trong tương lai.

Một lệnh cấm loại này sẽ giúp cải thiện tình trạng của môi trường biển và giải quyết các mối quan tâm của công chúng liên quan đến các tác động môi trường biển phát sinh từ các sản phẩm mỹ phẩm như vậy.

Việc cấm sẽ giúp bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ của động vật hoặc thực vật và bảo vệ môi trường.

Thời gian dự kiến thông qua: 30 Tháng 6 năm 2018

Ngày dự kiến có hiệu lực: 30 tháng 6 năm 2018

Thời hạn góp ý: 90 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của I-xra-en về thiết bị điện

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/998 ngày 29/01/2018, I-xra-en thông báo ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật  ký hiệu SI 900 phần 1 – An toàn đối với thiết bị điện dùng trong gia đình và sản phẩm tương tự: Các yêu cầu chung (364 trang, tiếng Anh, 19 trang, tiếng Hebrew)

Việc sửa đổi tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng SI 900 phần 1, nhằm giải quyết các yêu cầu về an toàn chung của thiết bị điện dùng trong gia đình và sản phẩm tương tự. Dự thảo tiêu chuẩn sửa đổi này thông qua tiêu chuẩn quốc tế IEC 60335-1 – Phiên bản 5.1: 2013-02 và tiêu chuẩn của Mỹ, được UL60335-1 – ấn bản 5.0: 31 tháng 10 năm 2011 phê chuẩn hoặc. Mỗi lần thông qua bao gồm một vài thay đổi xuất hiện trong phần liên quan đến tiếng Hebrew của tiêu chuẩn như sau:

  1. Chương A – Tuân thủ tiêu chuẩn Châu Âu:
  • Thêm phạm vi của tiêu chuẩn vào một tuyên bố chung rằng tiêu chuẩn này cũng áp dụng cho tất cả các thiết bị điện không thuộc phạm vi của bất kỳ tiêu chuẩn cụ thể nào khác;
  • Thay đổi các tiêu chuẩn quy chuẩn tham chiếu để áp dụng cho các luật địa phương và các quy định kỹ thuật (đoạn 2);
  • Bổ sung một đoạn mới 4.201 đòi hỏi rằng phần tiêu chuẩn này phải được sử dụng kết hợp với phần 2 của SI 900;
  • Bổ sung một đoạn 4.202 mới đòi hỏi một thiết bị điện không nằm trong phạm vi của Tiêu chuẩn I-xra-en cụ thể nào khác, nhưng thuộc phạm vi của bất kỳ phần nào của IEC 60335, phải tuân thủ nó cũng như tuân thủ tiêu chuẩn này;
  • Bổ sung một đoạn 4.203 mới yêu cầu thiết bị điện phải tuân thủ các yêu cầu của Quy định nguồn năng lượng của I-xra-en về mức tiêu thụ năng lượng tối đa khi ở chế độ chờ;
  • Thêm đoạn 5 về các điều kiện chung cho các phép thử yêu cầu kiểm tra các thiết bị một pha ở điện thế 230 V và các thiết bị ba pha ở điện thế 400 V với cường độ dòng 50 H;
  • Bổ sung vào đoạn 6 về phân loại, cấm sử dụng thiết bị loại 0 và loại 01;
  • Bổ sung thêm đoạn 7 về đánh dấu và hướng dẫn, một tiểu mục 7.1 mới yêu cầu ghi nhãn sản phẩm cũng sẽ tuân thủ các yêu cầu của Lệnh Bảo vệ Người tiêu dùng của I-xra-en (Nhãn hàng hoá);
  • Yêu cầu hướng dẫn, cảnh báo, hướng dẫn an toàn, bảo dưỡng và các tài liệu nhà sản xuất khác được dịch chính xác sang tiếng Hebrew và được cung cấp cùng với sản phẩm (đoạn 7.13);
  • Thêm đoạn 25 liên quan đến kết nối cung cấp và dây điện mềm bên ngoài, yêu cầu ổ cắm phải phù hợp với tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng SI 32 Phần 1.1 hoặc với SI 60309 phần 1 hoặc 2 theo mục đích của nó;
  • Thêm đoạn 32 về vấn đề bức xạ, độc tính và các mối nguy tương tự, yêu cầu đối với các sản phẩm có tiếp xúc với thực phẩm hoặc đồ uống và không liên quan đến nguồn cung cấp nước, sự di chuyển chung, di chuyển bằng kim loại và các đặc tính cơ học phù hợp với các yêu cầu của Quy định Châu Âu EC 1935/2004 ngày 27 tháng 10 năm 2004 và các cập nhật của nó bao gồm yêu cầu phải có bản tuyên bố tuân thủ của người nhập khẩu bằng văn bản. Ngoài ra, các sản phẩm tiếp xúc với nước và được nối với nguồn cung cấp nước, phải tuân theo tiêu chuẩn I-xra-en SI 5452;
  • Thêm một đoạn mới 201 liên quan đến các giá trị được đánh giá. Đoạn này yêu cầu điện áp và tần số trong các loại sản phẩm loại I và loại II phải phù hợp với mạng lưới điện quốc gia – Thiết bị một pha nên có thiết bị gia đình 230V và đa pha cần có điện áp 400V. Ngoài ra, tần số 50H phải nằm trong các giá trị được đánh giá;
  • Thêm một đoạn văn mới 202.1 về phát thải nhiễu điện từ và yêu cầu tuân thủ với tiêu chuẩn áp dụng của Tiêu chuẩn I-xra-en SI 961;
  • Bổ sung một khoản mới 203.1 và 203.2 để đối phó với mức độ ồn và yêu cầu các thiết bị đánh dấu âm thanh không được vượt quá mức khai báo của nhà sản xuất. Tuyên bố này sẽ được kiểm tra và xác nhận theo tiêu chuẩn quốc tế loạt IEC 60704.
  1. Chương A – Tuân thủ tiêu chuẩn Mỹ:
  • Thay đổi đoạn 22 về xây dựng, loại bỏ các phụ lục quốc gia Hoa Kỳ cho đoạn 22.3 và áp dụng các yêu cầu quốc gia của I-xra-en xuất hiện trong Tiêu chuẩn bắt buộc SI 32 của I-xra-en đối với phích cắm và ổ cắm;
  • Thay đổi đoạn 26 liên quan đến thiết bị đầu cuối cho dây dẫn bên ngoài, loại bỏ các phụ lục quốc gia Hoa Kỳ đến đoạn 26.6 và áp dụng thay cho các yêu cầu của Luật Điện lực I-xra-en;
  • Xóa Phụ lục DVB và DVC.

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể tư ngày thông báo.

 

Thông báo của Kenya về gỗ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/626 ngày 16/01/2018, Kenya thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia KS 2776: 2017 Kiểm tra và xử lý bổ sung các cọc tiện ích bằng gỗ đã được xử lý (28 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn này bao gồm việc kiểm tra thực tế các cọc tiện ích gỗ tại chỗ để xác định thiệt hại được thực hiện bởi các yếu tố vật lý và / hoặc sinh học và các biện pháp bổ sung được sử dụng để kéo dài khả năng sử dụng của cột

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 3 năm 2018

 

Thông báo của Kenya về hóa chất bảo quản gỗ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/627 ngày 16/01/2018, Kenya thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia DKS 1804-5: 2017: Chất bảo quản gỗ Phần 5: Phương pháp kiểm tra thực địa để xác định hiệu quả bảo vệ tương đối của chất bảo quản gỗ trên gỗ tiếp xúc với đất (13 trang, bằng tiếng Anh).

Tiêu chuẩn Kenya này mô tả phương pháp kiểm tra thực địa để xác định hiệu quả tương đối của chất bảo quản gỗ được áp dụng bằng cách ngâm tẩm áp suất chân không hoặc các quá trình khác cho sự thâm nhập hoàn chỉnh để ngăn ngừa sự xuống cấp của gỗ khi tiếp xúc với vi sinh vật trong đất. Phương pháp này cũng sẽ được sử dụng trong những khu vực mà có mối đe dọa của mối.

Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 6 năm 2018

 

Thông báo của Lithuania về sản phẩm xây dựng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/LTU/31 ngày 08/02/2018, Lithuania thông báo ban hành Dự thảo Trình tự Đánh giá Danh mục các sản phẩm xây dựng theo quy định. (23 trang, bằng tiếng Lituanian)

Tài liệu này trình bày bản dự thảo cập nhật cho các quy định kỹ thuật được thông báo trong thông báo số G/TBT/N/LTU/6. Nó không thay thế cho danh mục hiện có của sản phẩm xây dựng phải tuân theo các quy định, nhưng bổ sung nó bằng các tiêu chuẩn mới được áp dụng của Châu Âu. Quy định đề xuất cung cấp các tiêu chuẩn kỹ thuật, các đặc điểm cơ bản bắt buộc và các hệ thống đánh giá và kiểm tra tính ổn định của hoạt động cho một loạt các sản phẩm xây dựng như cốt liệu, chất kết dính, bê tông và vữa, các đơn vị nề, sản phẩm cách nhiệt, bê tông và bê tông cốt thép, cửa sổ và cửa ra vào, cấu kiện và sản phẩm bằng gỗ, kính, lớp phủ mái và các sản phẩm, sàn, tường và trần nhà, sản phẩm chống thấm, chất trám, sơn, địa kỹ thuật, dây cáp, thiết bị chữa cháy, sưởi ấm, cấp nước và thông gió,…., các chi tiết nhúng, kết cấu thép, sản phẩm xây dựng đường xá, ống khói, các công trình xử lý nước thải, hệ thống chữa cháy, thiết bị phát hiện cháy và báo cháy, hệ thống chữa cháy và các bộ phận của chúng … Dự thảo mới cũng quy định các thông số kỹ thuật, bắt buộc đặc điểm cơ bản, và hệ thống đánh giá và xác minh hiệu suất ổn định của các sản phẩm xây dựng mà không có thông số kỹ thuật hài hòa.

Quy định này nhằm tăng cường sự hài hoà hóa với các quy định của EU về sản phẩm xây dựng đồng thời nâng cao mức độ bảo vệ con người và môi trường.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 

Thông báo của Panama về nước uống

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/PAN/95 ngày 01/02/2018, Panama thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật DGNTI-COPANIT 21-2018, Nước Uống. Các điều khoản và Yêu cầu chung (17 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Mục đích và phạm vi, tài liệu để tham vấn quốc gia, định nghĩa, yêu cầu, đánh giá sự phù hợp, giám sát và kiểm soát, trách nhiệm của nhà cung cấp, chương trình lấy mẫu, lấy mẫu và thử nghiệm, xác định điểm lấy mẫu, tính bắt buộc của các phân tích và tiêu chuẩn tuân thủ,…, quản lý rủi ro, cung cấp dịch vụ đăng ký và thông tin, tần suất lấy mẫu.

Mục đích của Quy chuẩn kỹ thuật này là nhằm thiết lập các yêu cầu về thể chất, hóa học, sinh học và xạ trị đối với nước uống. Quy định này áp dụng cho các hệ thống cung cấp nước ở khu vực đô thị cũng như nông thôn.

 

Thông báo của Philippine về sản phẩm sắt thép

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/PHL/195/Rev.1 ngày 22/01/2018, Philippine thông báo ban hành Dự thảo Quyết định quản lý Hành chính số ____ Chuỗi ____ CÁC QUY ĐỊNH KỸ THUẬT MỚI VỀ CHỨNG NHẬN SẢN XUẤT BẮT BUỘC ĐỐI VỚI TIÊU CHUẨN THÉP THANH VẰN, THÉP XOẮN, THÉP ĐỊNH HÌNH.

Dự thảo Quyết định quản lý Hành chính (DAO) quy định các quy định kỹ thuật mới về xác nhận sản phẩm bắt buộc đối với các thanh thép bị biến dạng, thanh thép không gỉ và thanh thép góc cạnh để đảm bảo chất lượng, an toàn và truy xuất nguồn gốc sản phẩm thép đòi hỏi mức độ bảo vệ cao vì an toàn, do đó, tất cả các chính sách và thủ tục hiện hành liên quan đến việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn cho các tiêu chuẩn nói trên được sửa đổi.

Dự thảo DAO nhằm đảm bảo rằng các sản phẩm thép đáp ứng yêu cầu về an toàn và / hoặc chất lượng được quy định bởi Cục Tiêu chuẩn Philippine (BPS).

 

Thông báo của Philippine về đèn điện

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/PHL/202 ngày 06/02/2018, Philippine thông báo ban hành Dự thảo Quyết định quản lý hành chính 18-02 năm 2018 quy định về Tiêu chuẩn Quốc gia Philippine bắt buộc (PNS) cho Đèn LED Tự phát sáng cho Các Dịch vụ Chiếu sáng nói chung (5 trang, tiếng Anh)

Theo Quyết định hành chính này, tất cả các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà nhập khẩu, và các nhà bán lẻ đèn chùm tự phát phải tuân theo các yêu cầu của Tiêu chuẩn Quốc gia Philipine.

Phạm vi thực hiện sẽ bao gồm Đèn LED Tự Chứa cho các Dịch vụ Chiếu sáng Toàn bộ theo điện áp> 50 V – Các yêu cầu về an toàn theo PNS IEC 62560: 2012, dùng cho mục đích chiếu sáng chung trong nước và tương tự, có:

– Công suất tiêu thụ lên đến 30 W

– Điện áp danh định> 50 V đến 250 V

– Nút E14 và E27

Bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia Philippines về đèn LED tự chiên cho sự an toàn của người tiêu dùng.

 

Thông báo của Tanzania về sản phẩm thịt

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TZA/128 ngày 05/02/2018, Tanzania thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia ký hiệu AFDC 22 (4475) P3 Thịt gà (nguyên và gia vị) – Thông số kỹ thuật (11 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn Tanzania này quy định các yêu cầu, phương pháp lấy mẫu và thử nghiệm đối với thịt gia súc sống và / hoặc thịt gà “Gallus domesticus” đã ướp gia vị hoặc thịt đã cắt sẵn dùng cho người. Nó bao gồm thịt tươi hoặc thịt ướp gia vị tươi / thịt hoặc thịt đã cắt tại cơ sở giết mổ, chế biến thịt và giao hàng ra thị trường.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn; Bảo vệ sức khoẻ và an toàn của con người; đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 6 năm 2018

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

 (Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

 

THÔNG TIN PHÁP LUẬT

CHÍNH THỨC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TỰ VỆ ĐỐI VỚI PHÂN BÓN NHẬP KHẨU

******

Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 686/QĐ-BCT​ về việc áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP1 nhập khẩu vào Việt Nam.

Theo Quyết định này, từ ngày 07/3/2018 đến ngày 06/3/2019, phân bón vô cơ phức hợp hoặc hỗn hợp thuộc các mã HS như sau: 3105.10.20; 3105.10.90; 3105.20.00; 3105.30.00; 3105.40.00; 3105.51.00; 3105.59.00; 3105.90.00 có mức thuế tự vệ là 1.128.531 đồng/tấn.

Đồng thời, từ ngày 07/3/2019 đến ngày 06/3/2020, mức thuế tự vệ đối với các mặt hàng đó là 1.072.104 đồng/tấn; nếu không gia hạn, từ ngày 07/3/2020 trở đi, mức thuế tự vệ là 0 đồng/tấn.

Các sản phẩm phân bón có một trong các thành phần có hàm lượng như sau sẽ được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng biện pháp tự vệ chính thức: Ni-tơ (N) < 7%; Lân (P2O5) < 30% và Ka-li (K2O) > 3%.

Biện pháp tự vệ chính thức được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ tất cả các quốc gia/vùng lãnh thổ (sau đây gọi chung là quốc gia), trừ các quốc gia đang phát triển có lượng xuất khẩu vào Việt Nam không quá 3% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam và tổng lượng xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển không quá 9% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam.

Danh sách các quốc gia đang phát triển có lượng xuất khẩu vào Việt Nam không quá 3% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam (gọi là các quốc gia được loại trừ áp dụng biện pháp tự vệ chính thức) gồm 133 nước được liệt kê tại Phụ lục kèm theo Thông báo này.

Trong trường hợp lượng nhập khẩu từ một quốc gia đang phát triển tại Phụ lục vượt quá 3% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam, Bộ Công Thương sẽ ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung Phụ lục này.

Để được loại trừ áp dụng biện pháp tự vệ chính thức, bên cạnh các giấy tờ theo quy định của các cơ quan hải quan và cơ quan chuyên ngành, khi nhập khẩu hàng hóa, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải cung cấp cho cơ quan hải quan Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp với các quy định hiện hành, trên đó ghi rõ hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia có tên trong danh sách tại Phụ lục của Thông báo này.

Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phân bón cho rằng sản phẩm nhập khẩu của mình có đặc điểm khác biệt với hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước nhưng có cùng mã HS, tổ chức, cá nhân nhập khẩu có quyền nộp hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ tới: Cục Phòng vệ thương mại – Bộ Công Thương, tầng 6, 25 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội để được xem xét.

Bên cạnh đó, theo Quyết định này, từ ngày 19/8/2017 (ngày Quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời có hiệu lực) đến ngày 06/3/2018, mức thuế tự vệ chính thức là 1.128.531 đồng/tấn (thấp hơn 727.259 đồng/tấn so với mức thuế tự vệ tạm thời là 1.855.790 đồng/tấn).

Do đó, khoản chênh lệch thuế này sẽ hoàn lại cho các lô hàng đã nộp thuế tự vệ tạm thời.

Bộ Tài chính có trách nhiệm tiến hành các thủ tục hoàn trả tiền thuế chênh lệch theo quy định hiện hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày Bộ Công Thương ban hành quyết định áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng không trả lãi đối với khoản chênh lệch thuế đã nộp.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 07/3/2018.

NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA

*******

Ngày 08 tháng 3 năm 2018 Chính phủ ban hành Nghị định 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Nghị định này quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu.

Nghị định này áp dụng đối với thương nhân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến xuất xứ hàng hóa.

Theo đó, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận (GCN) xuất xứ hàng hóa lần đầu hoặc cho sản phẩm mới xuất khẩu (XK) lần đầu hoặc cho sản phẩm không cố định gồm:

+ Đơn đề nghị cấp GCN xuất xứ hàng hóa (Mẫu số 04 đính kèm);

+ Mẫu GCN xuất xứ hàng hóa;

+ Bản in tờ khai hải quan XK. Đối với hàng hóa XK không phải khai báo hải quan thì không cần nộp bản sao tờ khai;

+ Bản sao hóa đơn thương mại (đóng dấu sao y bản chính);

+ Bản sao vận tải đơn hoặc bản sao chứng từ vận tải tương đương (đóng dấu sao y bản chính). Trường hợp giao hàng không sử dụng vận tải đơn thì không cần nộp chứng từ này;

+ Bảng kê khai chi tiết hàng hóa XK đạt tiêu chí xuất xứ ưu đãi hoặc không ưu đãi;

+ Bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp nguyên liệu có xuất xứ hoặc hàng hóa được sản xuất trong nước;

+ Bản sao Quy trình sản xuất hàng hóa (đóng dấu sao y bản chính).

Đối với thương nhân sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cố định (không thay đổi về định mức số lượng, định mức trọng lượng, mã HS, trị giá và nguồn cung nguyên liệu đối với nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra), hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa lần đầu tiên bao gồm các chứng từ theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Từ lần đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tiếp theo, thương nhân chỉ cần nộp các chứng từ theo quy định từ điểm a đến điểm đ Khoản 1 Điều này. Các chứng từ trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa nêu tại điểm e, điểm g và điểm h, Khoản 1 Điều này có giá trị trong thời hạn 2 năm kể từ ngày thương nhân nộp cho cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Nghị định 31/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/3/2018.

ĐIỀU KIỆN NHẬP KHẨU VÀ TRAO ĐỔI HÀNG HÓA QUA CỬA KHẨU PHỤ

*******

Ngày 27/02/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư 01/2018/TT-BCT quy định chi tiết hàng hóa mua bán, trao đổi qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới của thương nhân.

Thông tư này quy định chi tiết hàng hóa mua bán, trao đổi qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới của thương nhân theo quy định tại Chương II Nghị định số 14/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới.

Thông tư áp dụng cho thương nhân, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới; Các cơ quan, tổ chức quản lý và Điều hành hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân; Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân.

Theo đó, hàng hóa nhập khẩu dưới hình thức mua bán, trao đổi qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới của thương nhân được thực hiện như sau:

Nếu hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới trong khu kinh tế cửa khẩu thì phải đáp ứng quy định về hoạt động mua bán quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.

Đối với cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nằm ngoài khu kinh tế cửa khẩu chỉ cho phép nhập khẩu hàng hóa nằm trong Danh mục hàng hóa quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư 01/2018/TT- BCT.

Đối với hàng hóa phục vụ sản xuất không thuộc Danh mục hàng hóa  tại Phụ lục I thì chỉ được phép nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nằm ngoài khu kinh tế cửa khẩu trong thời gian cụ thể do UBND tỉnh thông báo sau khi xin ý kiến Bộ Công Thương.

Thông tư 01/2018/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 27/02/2018, bãi bỏ Thông tư 34/2016/TT-BCT.

 (Nguyễn Thị Thắng)

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Quy định nhập khẩu vào thị trường Ma-rốc

*******

Ma- rốc đã có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực mở cửa thương mại. Về mặt hải quan, điều này được thể hiện  nhiều nhất qua việc gia nhập Tổ chức Hải quan Thế giới (1968), rồi các công ước quan trọng nhất do tổ chức này soạn thảo (Công ước về hệ thống hài hòa hóa thuế quan, Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hóa các chế độ hải quan, Công ước về tạm nhập,…). Việc mở cửa của Ma-rốc còn được thể hiện thông qua việc gia nhập GATT (1987),  rồi WTO (1994) cũng như thông qua Luật Ngoại thương (1989) về trao quyền tự do xuất nhập khẩu. Cuối cùng, nước này cũng ký kết nhiều hiệp định tự do mậu dịch (FTA) trong đó có Hiệp định Hợp tác với Liên minh châu Âu.

Việc giảm thuế hải quan mà Ma-rốc tiến hành cách đây 20 năm đã có những bước tiến đáng kể. Thuế quan mà giảm từ mức cơ bản 400% năm 1982 xuống còn 45% năm 1986, 35% năm 1993 và chỉ còn 33,4% năm 2012. Trong khuôn khổ ưu đãi của Hiệp định Hợp tác với Liên minh châu Âu, mức thuế quan trung bình không ưu đãi là 17,87% kể từ ngày 01/3/2004 và giảm xuống còn 0,05% năm 2012. Tuy nhiên, vẫn còn những tỷ suất thuế rất cao (lên đến 339%) đối với một số sản phẩm nông nghiệp hay công nghiệp.

  1. Các loại thuế tại Marốc

a.Thuế suất Tối huệ quốc (MFN)

Những nguyên tắc cơ bản về thuế quan được quy định trong Bộ luật Thuế quan thông qua năm 2000. Những tỷ suất ưu đãi MFN được quy định tại Điều 4 Luật tài chính cho 6 tháng cuối năm 2000. Trang thiết bị, dụng cụ cũng như các bộ phận của chúng, linh kiện và phụ tùng bị đánh mức thuế hoặc hoặc 2,5% hoặc 10% tính theo giá trị trong khuôn khổ Luật Đầu tư.

Có 7 mức thuế MFN: 0%, 2,5%, 10%, 17,5%, 255, 35% và 50%.

Có 3 loại thuế quan ưu đãi trong khuôn khổ Luật Đầu tư (0, 2,5 và 10%)

  1. Thuế giá trị gia tăng (VAT)

VAT áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu. Thuế được thu theo giá trị thuế quan được bổ sung các loại thuế và phí  khác nhau. Một số sản phẩm được miễn thuế (theo Luật 30-85 về VAT ngày 20/12/1985) chủ yếu là trang thiết bị và nông sản, thiết bị và sản phẩm nhập khẩu trong khuôn khổ các chế độ kinh tế hải quan, trang thiết bị, dụng cụ, linh kiện và cả hàng hóa, tác phẩm, và những dịch vụ do Liên minh châu Âu tài trợ,..

Có 4 mức thuế VAT: 7%, 10%, 14% và 2%

  1. Thuế tiêu thụ nội địa

Thuế này được quy định trong Luật 1-77-340 ngày 9/10/1977. Thuế đánh vào đồ uống có cồn và rượu, các sản phẩm làm từ cồn (đồ  uống không cồn: 7 đến 20 DH/héctolít (DH/HL), bia: 550 DH/HL, rượu vang:  260  hoặc 300 DH/HL,… những sản phẩm năng lượng và nhựa đường: 1,66 đến 376,40 DH, đơn vị thu thuế thay đổi tùy theo sản phẩm, thuốc lá chế biến công nghiệp 59,4% áp dụng trên giá bán cho công chúng ngoài thuế VAT, các tác phẩm làm bằng bạch kim hay bằng vàng (100 DH/ hecstogram) và các tác phẩm làm bằng bạc (15 DH/HG).

  1. Thuế nhập khẩu đặc biệt (mức duy nhất: 0,25% tính theo giá trị)

Thuế này được đánh vào mặt hàng nhập khẩu để tài trợ xúc tiến kinh tế và kiểm định hàng xuất khẩu. Thuế này không áp dụng đối với hàng nhập khẩu theo chế độ kinh tế hải quan; trang thiết bị và dụng cụ, linh kiện và phụ tùng cần thiết cho việc xúc tiến đầu tư; hàng hóa được hưởng biện pháp miễn thuế hoặc miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu.

  1. Các loại thuế và phí khác

Thuế đặc biệt đối với xi măng (50,00 DH/tấn); thuế đối với gỗ nhập khẩu (12% tính theo giá trị hàng hóa); thuế kiểm định sức khỏe động vật (từ 0,02 đến 20 DH, đơn vị thu thay đổi tùy theo từng trường hợp); thuế kiểm dịch sức khỏe thực vật (từ 0,001 đến 0,03 DH/kg);  thuế  đặc biệt với rượu vang và bia (5DH/HL); thuế kiểm soát và đóng dấu chứng thực đối với mặt hàng thảm (5% tính theo giá trị); đóng góp định kỳ cho phí trồng thực vật (10Dh/m3 dù thuốc sử dụng thuộc loại gì); thuế vận chuyển hàng hóa tư nhân (5 DH/ tấn hay một phần tấn/ ngày).

  1. Định giá thuế quan

Kể từ ngày 5/10/1998, phương pháp chính để định giá hải quan của Maroc là dựa vào giá trị giao dịch. Nó được xác định giống như giá đã được trả trên thực tế hoặc phải trả để mua hàng, có bổ sung những yếu tố mà người  mua phải chịu không tính trong giá hóa đơn (bao  bì, vận tải, bảo hiểm,…). Những  tranh  chấp có thể  xảy ra thường  liên quan đến việc phân loại sản phẩm. Khi đó nhà kinh doanh phải nhờ đến cơ quan hải quan, các hội đồng địa phương hay quốc gia.

  1. Thông quan hàng hóa tại Marốc
  2. Thông quan

Các thủ tục thông quan đã được đơn giản hóa. Nhà kinh doanh có thể thực hiện phần lớn các khai báo thông qua SADOC (Hệ thống tin học của Cơ quan hải quan và Cơ quan hối đoái) đối với mọi chế độ thuế quan. Có thể thực hiện việc thông quan sau khi có được mã số do cơ quan có thẩm quyền hải quan cung cấp.

  1. Đăng ký nhà nhập khẩu

Những nhà nhập khẩu phải đăng ký tại Cơ quan đăng ký thương mại. Việc đăng ký này được thực hiện tại tòa sơ thẩm của nơi đặt trụ sở chính của nhà kinh doanh hoặc trụ sở của công ty. Số đăng ký kinh doanh giúp có được giấy phép nhập khẩu.

  1. Giấy phép nhập khẩu

Ngoài một số sản phẩm chịu giấy phép nhập khẩu (thuốc súng, lốp xe đã sử dụng, xe và khung xe, máy kéo, rơ-moóc và xơ-mi rơ-moóc, quần áo cũ), hàng nhập khẩu cần phải có Cam kết nhập khẩu (trường hợp thường), hoặc phải có Khai báo trước nhập khẩu (đối với việc nhập khẩu các sản phẩm gây hoặc đe dọa gây tổn thất đối với sản xuất trong nước).

Hai thủ tục này được thực hiện thông qua một tờ khai mang tên “Cam kết nhập khẩu, Giấy phép nhập khẩu, Khai báo trước nhập khẩu” được chia thành 5 bản có kèm theo hóa đơn chiếu lệ (chỉ rõ giá đơn nhất, số lượng và tên thương mại). Các thủ tục này có thời gian hiệu lực lần lượt là 6 và 3 tháng. Cam kết nhập khẩu được làm trực tiếp qua ngân hàng trung gian được phép do nhà nhập khẩu lựa chọn.

  1. Những chứng từ phải xuất trình để thông quan hàng hóa

Ngoài chứng chỉ xuất xứ, khi thông quan hàng hóa được thực hiện trong khuôn khổ một hiệp định thương mại, những chứng từ đòi hỏi là giấy phép nhập khẩu, và chứng chỉ ngân hàng do ngân hàng được chỉ định thanh toán nhập khẩu cấp, hóa đơn, vận đơn, giấy ghi chú trọng lượng và mô tả hàng.

  1. Địa điểm và thời hạn thông quan

Việc thông quan có thể được thực hiện tại phòng thuế quan đặt tại cửa khẩu đường bộ, đường biển, và đường không. Có thể tiến hành thông quan từ nhà. Theo hải quan Marốc, thời hạn trung bình thông quan là dưới 1 giờ. Việc kiểm tra hàng hóa được làm rất kỹ (90% hoạt động thông quan được đánh giá là hợp tiêu chuẩn). Các cửa hàng và các khu vực mặt bằng để thông quan (MEAD) cho phép dự trữ, nhập khẩu và xuất khẩu hàng để thông quan. Từ tháng 2 năm 2000, Tổng cục Hải quan và Thuế gián thu (ADII) đã nhất trí cho phép 6 hãng vận chuyển quốc tế (Graveleau Maroc,Timar, Militzer và Much, Scac, Sté Méditeranéenne, Marine  Maroc) quản lý cửa  hàng và khu  vực  mặt bằng thông quan riêng.

  1. Các chế độ kinh tế hải quan

Các chế độ này cho phép dự trữ, chế biến, sử dụng hoặc lưu thông hàng hóa được miễn thuế quan, thuế tiêu dùng nội địa cũng như tất cả các loại thuế và phí khác.

Các hoạt động đăng ký theo chế độ kinh tế  thuế quan trừ khi có hành động vi phạm, phải được bảo đảm hoặc cách ký gửi tổng số tiền  do cơ quan thuế ấn định cho người thu thuế quan hoặc có bảo lãnh ngân hàng hoặc tất cả các hình thức bảo lãnh được phép.

  1. Kiểm dịch động thực vật

Áp dụng luật số 24-48 ngày 10/9/1993 (B.O số 4225 ngày 20/10/1993) quy định các biện pháp kiểm tra sức khỏe động vật, việc nhập khẩu động vật sống, thực phẩm làm từ động vật, các sản phẩm nhân giống động vật, hải sản và thủy sản đều phải qua kiểm tra y tế và định tính, chi phí do nhà kinh doanh xuất nhập chịu.

Theo luật ngày 20/9/1927 và những văn bản áp dụng, đặc biệt là Nghị định của Bộ Nông nghiệp và Cải cách ruộng đất số 1306-85 ngày 22/12/1986, việc nhập khẩu thực vật và các sản phẩm thực vật đã được quy định (Điều 5 luật nêu trên) phải qua kiểm dịch thực vật một cách có hệ thống mang tính bắt buộc.

  1. Ghi nhãn và tiêu chuẩn

Nghị định số 2-01-1016 ngày 4/6/2002 quy định những điều kiện ghi nhãn và công bố thực phẩm (BO số 5010 ngày 06/06/2002) tại điều 4 quy định “tất cả việc ghi tên nhãn mác quy định trong Nghị định này phải dễ hiểu, được viết bằng tiếng Ả-  rập và có thể bằng một ngôn ngữ khác, không có chữ viết tắt nào khác ngoài những chữ viết tắt được  quy định tại các công ước quốc tế”. Sau nhiều lần tham khảo ý kiến của các đại diện lĩnh vực nông lương, Nghị định này đã có hiệu lực ngày 01/03/2004.

Kiểm tra chất lượng  được quy định đối với việc nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp trong đó các tiêu chuẩn phải bắt buộc áp dụng và theo quy định của các luật và văn bản liên  quan đến tiêu chuẩn hóa (Luật số 1-70.150 ngày 30/7/1970- BO số 3024 ngày14/10/1970) đã được sửa đổi, bổ sung. Những sản phẩm nông lương và dược phẩm được quy định lần lượt tại luật số 13-83 về chống buôn lậu và Nghị định số 2-76-266 ngày 06/05/1977.

  1. Quy định về chứng từ nhập khẩu

Ma-rốc áp dụng chế độ giao dịch lưu động có thể hoán đổi đối với hàng nhập khẩu, do hàng nhập khẩu vào Ma-rốc không cần giấy phép của Ban ngoại hối. Tuy nhiên, việc nhập khẩu hàng hóa bắt buộc phải đăng ký các giấy tờ nhập khẩu: giấy cam kết nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, một số trường hợp cần tờ khai nhập khẩu xuất trình trước (DPI) – Tờ khai nhập khẩu xuất trình trước phải chỉ định nơi thanh toán tại ngân hàng Ma-rốc.

  1. Giấy cam kết nhập khẩu (import undertaking): Có hiệu lực trong vòng 6 tháng, lưu ý: Đối với hàng hóa nhập khẩu tự do, hàng nhập khẩu theo từng thương vụ hay hàng nhập khẩu tạm thời cũng như hàng nhập khẩu theo chế độ đặc biệt thì không cần giấy cam kết nhập khẩu.
  2. Chứng từ nhập khẩu khi nộp thuế và các nghĩa vụ khác ở biên giới:

– Hóa đơn thương mại

– Giấy chứng nhận của ngân hàng

– Biên lai hàng nhập miễn thuế

  1. Chứng từ khi thông quan hàng hóa:

– Giấy phép nhập khẩu (Import licence)

– Tờ khai chi tiết (detailed declaration)

–  Tờ khai nhập khẩu trước (áp dụng đối với một số hàng hóa đặc biệt) ( Prior import declaration)

– Các giấy tờ quá cảnh hoặc chuyển tải

– Giấy chứng nhận bảo hiểm

– Phiếu đóng gói

– Vận đơn đường biển hoặc đường hàng không hoặc giấy chứng nhận gửi hàng

  1. Các mặt hàng cấm và hạn chế nhập khẩu

Các mặt hàng cấm và hạn chế nhập khẩu của Ma-rốc: thuốc mê và các chất tác động đến thần kinh, vũ khí, vật liệu vũ khí, đạn dược, ngoại trừ việc nhập khẩu mặt hàng này phục vụ cho quân đội, vật phẩm đồ họa, áp phích, tác phẩm điêu khắc, ảnh, tranh vẽ, phim hay những tái bản có nội dung khiêu dâm hay trái với đạo đức hay gây ảnh hưởng đến nền hòa bình, cây apxin, và các sản phẩm từ cây đó, bò nhập khẩu. Các sản phẩm từ động vật sống bao gồm bò sống, phôi bò,…

  1. Thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu (PFI) được đánh vào các hàng hóa nhập khẩu với tỷ lệ cố định 15%.

Tuy nhiên, mức thuế này cũng được xóa bỏ hoặc giảm thuế như sau: Tỷ lệ 12,5% đối với hàng dược phẩm hoặc nguyên vật liệu thô được sử dụng trong quá trình sản xuất và dược phẩm.

– Miễn trừ đối với nhập khẩu các nguyên liệu vật liệu chịu thuế hải quan.

– Miễn trừ cho các doanh nghiệp liên quan tới các hoạt động nghiên cứu các loại khoáng chất.

– Miễn trừ đối với nguyên liệu sử dụng các năng lượng tái tạo.

– Miễn trừ đối với các sản phẩm phân bón.

– Miễn trừ đối với các sản phẩm thuốc kháng sinh nhất định nào đó.

  1. Ưu đãi thuế quan

Ưu đãi thuế của Ma-rốc áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước là thành viên của các hiệp định thương mại khu vực hay hiệp định thương mại song phương mà nước này tham gia như Khu vực mậu dịch tự do Ả- rập, Hiệp định liên kết với EU, Các hiệp định thương mại song phương với các nước trong khu vực như Ai Cập, Tuynidi, Gioócđani, Hiệp định thương mại và thuế quan, Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu GSTP,…

Điều kiện được hưởng ưu đãi: Có giấy chứng nhận xuất xứ chứng minh hàng hóa đến từ nước được hưởng chế độ ưu đãi và hàng hóa đó phải được chuyển trực tiếp từ nước được hưởng ưu đãi đến Ma-rốc.

  1. Biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
  2. Thuế chống trợ cấp được áp dụng nếu hàng hóa nhập  khẩu có dấu hiệu cho thấy được hưởng trợ cấp xuất khẩu ở nước xuất xứ hoặc nước gửi bán.
  3. Thuế chống bán phá giá được áp dụng nếu giá nhập khẩu thấp hơn giá bán thông thường của sản phẩm đó. Giá bán thông thường là giá tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm đó hoặc sản phẩm tương tự được định ra ở nước xuất khẩu, hoặc là giá xuất khẩu cao nhất của sản phẩm tương tự xuất khẩu tới nước thứ ba, hoặc là giá thành sản phẩm đó ở nước xuất xứ cộng thêm các chi phí bán hàng hợp lý và lợi nhuận hợp lý.

Cả thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đều có thể được áp dụng tạm thời như là một biện pháp khẩn cấp cho đến khi các biện pháp chính thức được thông qua.

  1. Quy định về bao bì, nhãn mác

Nhãn mác hàng hóa phải được ghi bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Ả-rập và phải ghi  nước xuất xứ.

Theo quy định từ năm 2002, đối với hàng hóa là thực phẩm phải nêu chi tiết về nhà nhập khẩu.

Những sản phẩm mang biểu tượng hoặc dấu hiệu giống biểu tượng của chính quyền hay tôn giáo sẽ bị cấm nhập khẩu.

Hàng đóng hộp và đồ uống không cồn đóng chai phải ghi rõ ngày sản xuất và hạn sử dụng của đồ hộp và hàng hóa dành cho người hoặc động vật Nhãn mác thực phẩm chế biến phải thể hiện rõ:

– Tên chính xác của sản phẩm

– Thành phần chất lượng

– Tên công ty, tên và địa chỉ nhà sản xuất

– Công ty đóng gói sản phẩm

– Nước xuất xứ

– Trọng lượng của các thành phần cấu thành.

Để biết thêm chi tiết, xin liên hệ:

Tổng cục Hải quan và Thuế gián thu Ma-rốc

(Administration Générale des Douanes et Impôts Indirects)

Địa chỉ: Đại lộ Annakhil, Hay Riad, Rabat

Tl:  212(0)53 57 90 00; Fax: +212 (0) 37 71 78 00/01

Email: adii@douane.gov.ma; Website: http://www.douane.gov.ma

 (Lê Thành Kông)

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là gì?

Trả lời: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định CPTPP), là một hiệp định thương mại tự do mới giữa Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam, được ký kết ngày 8/3/2018 tại Chi Lê. Một khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, nó sẽ là một trong những hiệp định thương mại tự do lớn nhất trên thế giới và sẽ cung cấp khả năng tiếp cận thị trường chính cho các thị trường châu Á.

Hiệp định CPTPP về cơ bản giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn một số ít các nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng trong bối cảnh mới.

Cũng như TPP, CPTPP được coi là một hiệp định thương mại tự do (FTA) tiêu chuẩn cao, không chỉ đề cập tới các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại v.v. mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước v.v.

Ngoài ra, Hiệp định này đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ.

Riêng về mở cửa thị trường, các nước tham gia Hiệp định đồng ý xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình; tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nước sở tại, bảo đảm sự quản lý của Nhà nước; từ đó tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp và lợi ích mới cho người tiêu dùng của các nước thành viên.

Các nước thành viên hy vọng Hiệp định này sẽ giúp định hình tương lai kinh doanh tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương trong nhiều năm tới.

*********

Hỏi: Một quốc gia sẽ đạt được lợi ích gì khi trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)?

Trả lời: Điều thu hút sự quan tâm lớn nhất và trước tiên của công dân bất cứ quốc gia nào khi quốc gia đó tham gia một hiệp định thương mại tự do là những lợi ích mang lại cho mình. Trên nghĩa này, CPTPP tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa và đầu tư của Việt Nam nói riêng và các nước thành viên nói chung tiếp cận một thị trường rộng lớn ở châu Á Thái Bình Dương gồm Nhật, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và là đối tác thương mại lớn của nhiều nước thành viên, nơi hiện vẫn đang có sự bảo hộ thương mại với biểu thuế cao và nhiều rào cản khác.

CPTPP cũng có những thỏa thuận mạnh mẽ về môi trường và lao động, mạnh hơn tất cả các hiệp định thương mại tự do trên thế giới đã ký kết từ trước đến nay. Về môi trường, các điều khoản thỏa thuận trong CPTPP sẽ giúp bảo vệ môi trường nước sở tại thông qua việc yêu cầu các bên liên đới tuân thủ các thỏa thuận quốc tế (về bảo vệ) môi trường và dùng những thỏa thuận này để giải quyết các tranh chấp. Hiệp định còn có điều khoản về trợ cấp đánh bắt hải sản dẫn đến đánh bắt quá mức, cũng như quy định nghĩa vụ cho các nước thành viên xử lý việc mua bán thực vật và động vật hoang dã bất hợp pháp.

Các thỏa thuận về lao động nhằm bảo vệ và thực thi các quyền lao động, cải thiện điều kiện làm việc và chất lượng sống, thắt chặt sự phối hợp trong các tranh chấp lao động… Và đây là lần đầu tiên, trong khuôn khổ CPTPP, các vấn đề về lao động được giải quyết qua cơ chế giải quyết tranh chấp, đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ giữa các công ty bản địa và nước ngoài với người lao động tại tất cả các nước thành viên. Điều này giúp bảo đảm rằng không một nước thành viên nào thu được lợi thế cạnh tranh thương mại nhờ có luật lao động lỏng lẻo và không được thực thi nghiêm túc.

Với những ưu việt của nó, CPTPP được kỳ vọng sẽ thu hút sự quan tâm và tham gia của nhiều thành viên mới trong tương lai, không ngoại trừ cả Mỹ và thậm chí là Trung Quốc (nếu được các nước thành viên hiện thời đồng ý). Điều này càng tạo thêm thuận lợi cho sự tiếp cận các thị trường mới khổng lồ của các nước thành viên hiện tại, trong đó có Việt Nam.

*********

Hỏi: Chủ quyền quốc gia có bị mất đi khi một quốc gia trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay không?

Trả lời: Dù có nhiều điểu khoản thỏa thuận ở mức cao, gồm quyền của doanh nghiệp nước ngoài kiện Chính phủ, nhưng CPTPP không tước đi quyền được có các lựa chọn phù hợp với lợi ích quốc gia nhất của Chính phủ các nước thành viên. Trong mọi trường hợp, các nước thành viên luôn có quyền rút ra khỏi hiệp định trong tương lai nếu họ muốn vậy.

Cụ thể hơn, CPTPP vẫn giành cho các Chính phủ thành viên quyền chế tài nhằm đảm bảo các lợi ích công cộng của quốc gia mình, gồm các lĩnh vực như hệ thống y tế, cung cấp dược phẩm, giáo dục công cộng, môi trường, và an ninh quốc gia…

Quyền chủ quyền của các nước thành viên còn được thể hiện cụ thể bằng việc tiếp tục được phép giám sát và hạn chế đầu tư nước ngoài vào những khu vực nhạy cảm (về, ví dụ, đất đai và hạn chế đánh bắt hải sản), và hạn chế người nước ngoài được sở hữu nhà.

CPTPP cũng không cấm đoán các nước thành viên thành lập mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Và cũng chỉ các DNNN ở một quy mô (về doanh thu thương mại) đủ lớn nào đó mới là đối tượng chế tài của CPTPP. Ngoài ra, các điều khoản quy định về DNNN của CPTPP không áp dụng với các đơn vị chăm sóc y tế cơ sở, viện nghiên cứu, các tổ chức và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế công cộng…

CPTPP cũng không có một điều khoản nào ngăn cấm các nước thành viên được quốc hữu hóa các công ty tư nhân trong tương lai. Tất nhiên, khi quốc hữu hóa, các Chính phủ được kỳ vọng sẽ phải bồi thường thỏa đáng cho các chủ sở hữu công ty tư nhân theo luật lệ quốc tế và trong nước.

Và cũng giống như với các hiệp định thương mại tự do đa phương khác, CPTPP khẳng định lại cam kết của các nước thành viên không cố ý lạm dụng các quy định của CPTPP cho các mục đích công cộng không chính đáng dưới dạng các rào cản thương mại mang tính phân biệt đối xử bất hợp lý.

*********

Hỏi: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có sự khác biệt như thế nào?

Trả lời: Do không có sự tham dự của Mỹ, thành viên chủ chốt của TPP, nên CPTPP tất yếu có những nội dung khác biệt với của TPP. Cụ thể, có 20 điều khoản của TPP đã bị đình chỉ trong các lĩnh vực gồm đầu tư và sở hữu trí tuệ.

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, TPP sẽ làm vô hiệu hóa một số luật và thông lệ của các nước thành viên trong việc bảo vệ các dược phẩm mới không bị cạnh tranh bởi các thuốc gốc (generic drug). Trong khuôn khổ của CPTPP, không có yêu cầu nào cho các nước thành viên thay đổi các luật và thông lệ đối với các dược phẩm mới gồm cả chế phẩm sinh học. Các nước thành viên cũng đồng ý đình chỉ nghĩa vụ gia hạn thời hạn bản quyền trong những trường hợp có những sự trì hoãn bất hợp lý trong việc cấp bản quyền cũng như cấp phép nhập khẩu một loại thuốc nào đó vào các nước thành viên.

Ngoài ra, một số quy định về sở hữu trí tuệ có trong TPP cũng bị đình chỉ trong CPTPP. Chẳng hạn, các nước thành viên không còn phải gia hạn thời gian bảo hộ bản quyền lên 70 năm (từ 50 năm), và điều này giúp làm giảm chi phí hữu hình cho các nước thành viên của CPTPP so với TPP. Có tổng cộng 11 quy định về sở hữu trí tuệ của TPP đã bị đình chỉ trong CPTPP.

Về Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ và Nhà đầu tư (ISDS), CPTPP vẫn bảo lưu ISDS nhưng có sự giảm bớt về phạm vi cho phép nhà đầu tư nước ngoài sử dụng cơ chế này để kiện Chính phủ nước thành viên sở tại. Theo đó, trong khuôn khổ CPTPP, các công ty tư nhân có hợp đồng đầu tư với Chính phủ sẽ không được phép sử dụng cơ chế ISDS để kiện Chính phủ nước sở tại nếu đó là tranh chấp về hợp đồng.

Lưu ý rằng công ty sở tại không được sử dụng ISDS để khởi kiện Chính phủ nước sở tại, mặc dù công ty sở tại có thể sử dụng ISDS để khởi kiện Chính phủ của một nước thành viên khác. ISDS chỉ liên quan đến các tranh chấp về các điều khoản đầu tư của CPTPP.

Và cũng cần lưu ý rằng các công ty không có quyền quyết định lập ban trọng tài của ISDS. CPTPP có điều khoản về việc này, theo đó, ban trọng tài có ba thành viên, một do Chính phủ cử ra, một do nguyên đơn lựa chọn, và một trọng tài chủ tọa cùng do Chính phủ và nguyên đơn lựa chọn.

 (Lê Thành Kông)

 

Facebook Comments