Tác động kinh tế của Hiệp định CPTPP với Việt Nam

Post by: admin - Post date: Sunday, Mar 25, 2018 | 0:54 - View count: 37

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định CPTPP), là một hiệp định thương mại tự do mới giữa Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, nó sẽ là một trong những hiệp định thương mại tự do lớn nhất trên thế giới và sẽ cung cấp khả năng tiếp cận thị trường chính cho các thị trường Châu Á.

Hiệp định CPTPP chiếm 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu người với tổng kim ngạch thương mại vượt 10.000 tỷ USD. Dù không có quy mô bằng Hiệp định TPP cũ, nhưng Hiệp định này cũng giúp nhiều nước tiếp cận được với các thị trường thương mại tự do mới.

Các nước thành viên hy vọng Hiệp định này sẽ giúp định hình tương lai kinh doanh tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương trong nhiều năm tới dù không có sự tham gia của Mỹ.

Với nội dung hơn 8000 trang, không chỉ chứng tỏ quyết tâm của các nước vì một khu vực thương mại tự do, cởi mở và thịnh vượng, mà còn cho thấy sự tiến bộ vượt trội của thỏa thuận thương mại đa phương so với thỏa thuận song phương.

CPTPP sẽ kết hợp thỏa thuận ban đầu của TPP, với việc đình chỉ một số lượng hạn chế các điều khoản, trong khi vẫn tìm cách duy trì tiêu chuẩn cao của thỏa thuận.

Lịch trình thuế quan được giữ như thương lượng với thuế hải quan đối với 95% thương mại hàng hoá sẽ được loại bỏ trong thời gian dài.

Các cam kết tự do hoá trong các lĩnh vực chủ chốt như dệt may, rào cản kỹ thuật đối với các biện pháp kiểm dịch động thực vật, cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nhỏ và vừa, lao động và giải quyết tranh chấp vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng các bộ trưởng cũng xác nhận Danh sách các Điều khoản Tạm ngừng. Các điều khoản này là một phần của văn bản TPP gốc. Họ đã đình chỉ 20 điều khoản từ các chương về tạo thuận lợi thương mại, đầu tư, dịch vụ, mua sắm công, quyền sở hữu trí tuệ (IPR), môi trường và minh bạch.

CPTPP vẫn đóng góp cho nền kinh tế và thương mại của Việt Nam, và điều quan trọng nhất là sẽ dẫn tới nhiều cải cách chính sách. Việt Nam sẽ tiếp cận các thị trường mới hơn và có thể mở rộng xuất khẩu sang các nước như Canada, Mexico, và Peru mà họ không có thỏa thuận thương mại. Xuất khẩu được dự báo sẽ tăng 4%.

Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như hàng may mặc và giày dép sẽ có lợi nhất từ ​​xuất khẩu tăng. Cũng sẽ có sự gia tăng nhập khẩu, nhưng hiệu quả sẽ là rất nhỏ vì Việt Nam đã có hiệp định thương mại với hầu hết các thành viên của CPTPP.

Ngoài ra, CPTPP sẽ dẫn tới nhiều cải cách về thể chế như cải cách lao động dẫn tới hội nhập nhanh hơn và nhanh hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nó cũng sẽ thúc đẩy Việt Nam cải thiện các quy định, giới thiệu cải cách hành chính và đầu tư đổi mới để duy trì tính cạnh tranh.

Nếu không có Hoa Kỳ, CPTPP cũng giúp các thành viên của mình giảm sự phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc để có được một hiệp định thương mại thành công.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cho thấy một số tác động chính đến Việt Nam cụ thể như sau:

  • Sản lượng: So với kịch bản cơ sở và năm gốc (2011), tính đến năm 2030, theo các giả định thận trọng, GDP của Việt Nam ước tính sẽ tăng 1,1%.
  • Xuất nhập khẩu: Với CPTPP, xuất khẩu dự báo sẽ tăng thêm 4,2%; nhập khẩu tăng thêm 5,3% và sẽ tăng cao hơn lần lượt ở các mức 6,9% và 7,6% với kịch bản có năng suất tăng.
  • Thuế xuất nhập khẩu: Với CPTPP, mức thuế xuất nhập khẩu bình quân gia quyền áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường CPTPP sẽ giảm từ 1,7% xuống 0,2%.
  • Hàng rào phi thuế quan (HRPTQ): Những HRPTQ áp dụng đối với Việt Nam tại các thị trường CPTPP dự kiến sẽ giảm bình quân 3,6 điểm phần trăm tính tương đương thuế quan theo giá hàng (ad-valorem).
  • Tác động theo ngành: Với CPTPP, mức tăng trưởng cao nhất về sản lượng dự tính sẽ thuộc về các ngành thực phẩm, đồ uống, thuốc lá; may mặc, hàng da; dệt may cùng với tăng trưởng vừa phải ở một số tiểu lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Xuất khẩu tăng dự kiến sẽ đạt cao nhất ở các ngành thực phẩm, đồ uống, thuốc lá; may mặc, hàng da; hóa chất, sản phẩm da và nhựa; thiết bị, phương tiện vận tải; máy móc, thiết bị khác. Nhập khẩu dự kiến sẽ tăng ở tất cả các ngành.
  • Tác động phân bổ thu nhập: Đến năm 2030, CPTPP dự kiến sẽ giúp giảm 0,6 triệu người nghèo ở mức chuẩn nghèo 5,50 $/ngày so với kịch bản cơ sở. Tất cả các nhóm thu nhập dự kiến sẽ được hưởng lợi, nhưng mức lợi ích đạt được sẽ cao hơn ở nhóm lao động trình độ cao thuộc tốp 60% nhóm phân bổ thu nhập cao nhất. Điều này càng cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư vào nguồn vốn con người để tận dụng đầy đủ lợi ích từ hiệp định.

Các kết quả cho thấy CPTPP vẫn là một hiệp định đáng cân nhắc, mặc dù việc không còn sự tham gia của Mỹ khiến lợi ích có thể thu được sẽ giảm nhiều. Trong trường hợp Việt Nam, lợi ích thu được sẽ tập trung chủ yếu vào một số ngành: Ngành may mặc sẽ có mức lợi ích nhất trong tất cả các kịch bản, ngành dệt may sẽ có mức tăng lớn hơn trong TPP, ngành thực phẩm, đồ uống, thuốc lá sẽ có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong CPTPP. Như dự tính, CPTPP sẽ ít hấp dẫn hơn TPP, đồng thời đem lại ít khả năng tăng sản lượng và xuất khẩu hơn. Tuy nhiên, hiệp định này sẽ dẫn tới mức độ đa dạng hóa xuất khẩu lớn hơn nếu tính trên thị trường xuất khẩu. Mặc dù tất cả các nhóm thu nhập theo dự kiến đều được hưởng lợi từ CPTPP, những lao động có kỹ năng cao trong tốp 60% thu nhập cao nhất sẽ được hưởng lợi nhiều hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư vào phát triển nguồn vốn con người để tận dụng đầy đủ những lợi ích từ hiệp định.

Ngoài các vấn đề “thương mại” trong Hiệp định, CPTPP có thể khuyến khích và thúc đẩy cải cách trong nước ở nhiều lĩnh vực như cạnh tranh, dịch vụ (bao gồm dịch vụ tài chính, viễn thông, gia nhập tạm thời của các nhà cung cấp dịch vụ), hải quan, thương mại điện tử, môi trường, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn lao động, các vấn đề pháp lý, tiếp cận thị trường cho hàng hoá, quy tắc xuất xứ, các biện pháp phi thuế quan (bao gồm các biện pháp SPS và TBT), các biện pháp khắc phục thương mại v.v.. CPTPP sẽ góp phần thúc đẩy sự minh bạch và hỗ trợ việc hình thành các thể chế hiện đại ở Việt Nam.

Trong dài hạn, lợi ích đạt được không chỉ là tăng xuất khẩu mà còn bao gồm tăng hàm lượng công nghệ của hàng xuất khẩu. Đầu tư tăng nhờ các lợi ích tiềm năng của CPTPP có thể làm cho xuất khẩu ít phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu hơn, thay vào đó sẽ dựa nhiều hơn vào chuỗi cung ứng trong nước để khắc phục các hạn chế của quy tắc xuất xứ. Phản ứng này sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa có giá trị gia tăng, khuyến khích các công ty tư nhân trong nước hội nhập tích cực hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và do đó thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV).

Dự kiến sẽ có sự chuyển hướng dòng vốn đầu tư nước ngoài mạnh hơn sang các ngành công nghiệp thượng nguồn của các ngành được hưởng lợi nhiều như dệt, may mặc và da để tận dụng CPTPP. Tuy nhiên, việc FDI tăng lên trong các ngành công nghiệp thượng nguồn không phải là không đi kèm chi phí, do vậy Việt Nam cần đưa ra những chính sách khôn ngoan để lựa chọn công nghệ tiên tiến và dòng vốn FDI thân thiện với môi trường để tối ưu hóa tác động của hiệp định này.

Kinh nghiệm sau khi gia nhập WTO cho thấy Việt Nam không thể tận dụng ngay lập tức lợi ích của việc gia nhập WTO để thu hút và tiếp nhận dòng vốn FDI lớn do thiếu năng lực để tạo điều kiện cho các công ty có liên kết toàn cầu tham gia chuỗi giá trị cao do chi phí hậu cần cao và cơ sở hạ tầng đường xá, điện, cảng biển, dịch vụ hậu cần, v.v.. còn yếu kém. Các vấn đề phía sau biên giới. Những thách thức này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện khả năng kết nối để hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) và giữ chi phí thương mại ở mức thấp. Các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài trong nước tham gia vào các GVC cần phải có khả năng di chuyển hàng hoá qua biên giới một cách hiệu quả và đáng tin cậy. Điều này đòi hỏi cần có cả cơ sở vật chất và thể chế tốt.

Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy phần lớn các chi phí tuân thủ cao đều liên quan đến các hàng rào phi thuế quan. Mặc dù đã có những tiến bộ gần đây trong cải cách Hải quan và việc thực hiện Cơ chế Một cửa Quốc gia và ASEAN, nhưng chi phí tuân thủ về thời gian và tiền bạc để thông quan hàng hoá trước và tại biên giới ở Việt Nam vẫn cao. Việc giải quyết vấn đề nút cổ chai quan trọng này sẽ giúp thực hiện các cam kết không chỉ trong khuôn khổ CPTPP mà cả trong Hiệp định Thuận lợi hoá Thương mại của WTO.

Lê Thành Kông

Facebook Comments