Bản tin TBT tháng 7/2018

Post by: admin - Post date: Wednesday, Jul 25, 2018 | 7:13 - View count: 55

TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về mì ăn liền

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/412, G/TBT/N/BHR/519, G/TBT/N/KWT/401, G/TBT/N/OMN/352, G/TBT/N/QAT/518, G/TBT/N/SAU/1051, G/TBT/N/YEM/121 ngày 30/5/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật GSO “Mì Ăn Liền” (11 trang, tiếng Ả Rập, 9 trang, bằng tiếng Anh).

Quy chuẩn này quy định các nội dung liên quan đến mì ăn liền gồm: định nghĩa, phương thức đóng gói, khiếm khuyết, yêu cầu, lấy mẫu, phương pháp thử, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ và ghi nhãn. Dự thảo này sẽ thay thế GSO 1871: 2008.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm. Hạn góp ý 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về khoai môn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/413, G/TBT/N/BHR/520, G/TBT/N/KWT/402, G/TBT/N/OMN/353, G/TBT/N/QAT/519, G/TBT/N/SAU/1052, G/TBT/N/YEM/122, ngày 30/5/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật GSO “Khoai môn đông lạnh” (8 trang, tiếng Ả Rập, 8 trang, bằng tiếng Anh).

Quy chuẩn này quy định các nội dung liên quan đến khoai môn đông lạnh gồm: định nghĩa, phương thức đóng gói, khiếm khuyết, yêu cầu, lấy mẫu, phương pháp thử, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ và ghi nhãn.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm. Hạn góp ý 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về cà phê

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/416, G/TBT/N/BHR/523, G/TBT/N/KWT/405, G/TBT/N/OMN/356, G/TBT/N/QAT/522, G/TBT/N/SAU/1055, G/TBT/N/YEM/125, ngày 19/6/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật của GCC đối với sản phẩm cà phê và cà phê – Bột cà phê Cappuccino (7 trang, tiếng Ả Rập).

Quy chuẩn này quy định các nội dung liên quan đến Bột cà phê Cappuccino gồm: định nghĩa, yêu cầu chất lượng, lấy mẫu, phương pháp thử, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ và ghi nhãn.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ người tiêu dùng. Hạn góp ý 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về hạn sử dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/417, G/TBT/N/BHR/524, G/TBT/N/KWT/406, G/TBT/N/OMN/357, G/TBT/N/QAT/523, G/TBT/N/SAU/1056, G/TBT/N/YEM/126, ngày 19/6/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật của GCC về hạn sử dụng đối với sản phẩm thực phẩm – Phần 1: hạn sử dụng bắt buộc (15 trang, tiếng Ả Rập).

Quy chuẩn này quy định các nội dung liên quan đến thời hạn sử dụng bắt buộc của thực phẩm đóng gói được chuẩn bị để tiêu thụ trực tiếp.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ người tiêu dùng. Hạn góp ý 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về lốp ô tô

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/418, G/TBT/N/BHR/525, G/TBT/N/KWT/407, G/TBT/N/OMN/358, G/TBT/N/QAT/524, G/TBT/N/SAU/1057, G/TBT/N/YEM/127, ngày 20/6/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gồm Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật của GCC về “Lốp xe cho xe thương mại – Phần 1: Thuật ngữ, chỉ định, đánh dấu, kích thước, tải trọng và áp lực nổ” (20 trang, tiếng Ả Rập, 18 trang, bằng tiếng Anh).

Quy chuẩn này quy định các nội dung liên quan đến phương pháp thử nghiệm lốp mới cho xe đa năng, Xe tải nhẹ, Xe tải hạng nặng, Xe buýt và xe kéo. Quy định này không áp dụng đối với các loại lốp được xác định theo loại tốc độ dưới 80km/h. Nó cũng không áp dụng cho chu kỳ động cơ, thiết bị đường bộ hoặc lốp cho thiết bị nông nghiệp.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Hạn góp ý 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Armenia về Thiết bị điện

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARM/84 ngày 30/5/2018, Armenia thông báo ban hành Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật của Liên minh kinh tế Á-Âu “Về an toàn thiết bị điện cao thế” (TREAEU/201) (29 trang, tiếng Nga)

Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật của Liên minh kinh tế Á-Âu “Về an toàn thiết bị điện cao thế” (TREAEU/201) đề ra các yêu cầu về bảo vệ sức khoẻ và con người, bảo vệ tài sản, bảo vệ môi trường, ngăn chặn hành động gây hiểu lầm cho người tiêu dùng, đảm bảo tiết kiệm năng lượng và tiết kiệm tài nguyên thiết bị điện áp cao.

Mục đích của việc ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo sức khỏe, an toàn, tài sản, bảo vệ môi trường.

 

Thông báo của Bolivia về xi măng Poóc-lăng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BOL/10 ngày 25/5/2018, Bolivia thông báo ban hành Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến xi măng Portland và xi măng pozzolanic (17 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha).

Quy chuẩn đưa ra các quy định kỹ thuật được áp dụng cho xi măng Portland và xi măng pozzolanic được bán trên thị trường của Bolivia, dù được sản xuất trong nước hay nhập khẩu.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm ngăn chặn các hành vi gây hiểu lầm và bảo vệ người tiêu dùng; để bảo vệ sức khỏe con người và an toàn; thiết lập các yêu cầu kỹ thuật đối với xi măng Pooclăng và xi măng pozzolan nhằm ngăn chặn rủi ro đối với an toàn của con người và tránh hành vi có khả năng gây hiểu lầm cho người tiêu dùng.

Thời gian dự kiến thông qua: 15/8/2018

Thời hạn dự kiến có hiệu lực: 12/3/2019

 

Thông báo của Braxin về hàng hóa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/820 ngày 12/6/2018, Braxin thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng ngoại thương Braxin (CAMEX) về Thực hành quản lý tốt trong Ngoại thương (4 trang, bằng tiếng Bồ Đào Nha)

CAMEX đề xuất một Nghị quyết liên quan đến việc áp dụng thực hành quản lý tốt (GRPs) trong thương mại với nước ngoài. Nghị quyết sẽ là một hướng dẫn không ràng buộc, tập trung vào RIA, Tư vấn công cộng, Sử dụng tài liệu tham khảo quốc tế, trong số các GRP khác.

Mục tiêu là tăng cường việc áp dụng thực hành quản lý tốt bởi Cơ quan quản lý ngoại thương của Braxin.

Thời gian dự kiến thông qua: Tháng 9 năm 2018

Thời hạn dự kiến có hiệu lực: Tháng 9 năm 2018

Thời hạn góp ý: ngày 6 tháng 8 năm 2018

Thông báo của Braxin về sản phẩm có nguồn gốc động vật

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/825 ngày 26/6/2018, Braxin thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật số 16, ngày 08 tháng 5 năm 2018 (1 trang, bằng tiếng Bồ Đào Nha)

Quy chuẩn kỹ thuật quy định kế hoạch lấy mẫu cho việc kiểm soát ở cấp quốc gia đối với dư lượng và chất gây ô nhiễm trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm bảo vệ sức khỏe con người; đảm bảo chất lượng sản phẩm, và an toàn thực phẩm

Thời gian dự kiến thông qua: ngày 7 tháng 6 năm 2018

Thời hạn dự kiến có hiệu lực: ngày 7 tháng 10 năm 2018

 

Thông báo của Botswana về đồ gia dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BWA/89 ngày 26/6/2018, Botswana thông báo ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia ký hiệu BOS IEC 60335-2-14: 2016, Đồ gia dụng và các thiết bị điện tương tự – An toàn – Phần -14: Các yêu cầu cụ thể đối với thiết bị dùng trong bếp (113 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn an toàn này đề cập đến sự an toàn của thiết bị điện gia dụng cho các mục đích gia đình và tương tự, điện áp định mức của chúng không quá 250 V.

Ví dụ về các thiết bị nằm trong phạm vi của tiêu chuẩn này là: máy xay sinh tố, dụng cụ mở, máy làm kem, máy trộn thức ăn, nạo, máy đánh trứng, bộ xử lý thực phẩm, dao vắt, máy xay, máy gọt khoai tây, nhuyễn trái cây.

Các thiết bị gia dụng dành cho hộ gia đình bình thường và sử dụng tương tự và cũng có thể được sử dụng bởi các cửa hàng, trong công nghiệp nhẹ và trong các trang trại, nằm trong phạm vi của tiêu chuẩn này. Tuy nhiên, nếu thiết bị được sử dụng chuyên nghiệp để chế biến thực phẩm để tiêu thụ thương mại, thiết bị này không được coi là dành cho hộ gia đình và chỉ sử dụng tương tự.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm thông tin số lượng, ghi nhãn; Phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe con người hoặc an toàn; Yêu cầu chất lượng

Thời gian dự kiến ​​thông qua: ngày 28 tháng 12 năm 2018

Thời hạn dự kiến ​​có hiệu lực: ngày 28 tháng 6 năm 2019

Thời hạn góp ý: ngày 27 tháng 8 năm 2018

 

Thông báo của Canada về sản phẩm thuốc lá

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CAN/557 ngày 26/6/2018, Canada thông báo ban hành Quy định về sản phẩm thuốc lá (Bề ngoài được chuẩn hóa và đồng nhất); Đơn hàng sửa đổi Phụ lục 1 của Đạo luật Thuốc lá và sản phẩm thuốc lá điện tử đối với các tác nhân tạo màu; và, sửa đổi hợp lý đối với Quy định về thông tin sản phẩm thuốc lá (TPIR) và Quy định ghi nhãn sản phẩm thuốc lá (TPLR). (33 trang, có sẵn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp)

Đề xuất này bao gồm việc tạo ra các Quy định về Sản phẩm Thuốc lá (Dạng đơn giản và Tiêu chuẩn hóa) (PSA) (sau đây được gọi là ‘Quy định’). Các quy định được đề xuất bao gồm đo lường tiêu chuẩn hóa sự xuất hiện của các gói sản phẩm thuốc lá, cũng như sự xuất hiện của các sản phẩm thuốc lá, bao gồm thông tin về các gói thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá. Màu sắc, biểu tượng và hình ảnh thương hiệu khác sẽ không còn được cho phép nữa. Đề xuất này cũng bao gồm một Lệnh mới sửa đổi Phụ lục 1 của Đạo luật Thuốc lá và sản phẩm thuốc lá điện tử nhằm điều chỉnh lệnh cấm sử dụng các tác nhân tạo màu với các Quy định được đề xuất và cũng bao gồm các sửa đổi hợp lý đối với Quy định Thông tin Sản phẩm Thuốc lá (TPIR) và Quy định ghi nhãn sản phẩm thuốc lá (TPLR) (Thuốc lá điếu và xì gà nhỏ). Các biện pháp được đề xuất cho gói thuốc lá bao gồm:

  • Tiêu chuẩn hóa diện mạo tổng thể của gói sản phẩm thuốc lá (ví dụ: không có cạnh vát, dập nổi, chữ nổi, dập lá và các tính năng trực quan hoặc xúc giác khác trên bề mặt bên ngoài hoặc bên trong của gói sản phẩm thuốc lá);
  • Chuẩn hóa hình dạng và chỉ định kích thước cho các gói thuốc lá (chỉ với định dạng trượt và vỏ);
  • Yêu cầu một màu đơn giản (Pantone 448C – một màu nâu mờ, tối, xám xịt) trên tất cả các bề mặt bên trong và bên ngoài của các gói sản phẩm thuốc lá;
  • Cho phép hiển thị tên thương hiệu trên bao bì, theo kiểu phông chữ chuẩn (Lucida Sans Serif), kích thước, màu sắc (Pantone Cool Gray 2C) và vị trí;
  • Cấm sử dụng màu hoặc công nghệ lọc trong tên thương hiệu;
  • Yêu cầu kiểu phông chữ chuẩn (Lucida Sans Serif), kích thước và màu sắc (Pantone Cool Gray 2C) cho thông tin được phép hiển thị trên bao bì (ví dụ: tên và địa chỉ của nhà sản xuất, số lượng thực và tên chung của sản phẩm);
  • Chỉ định các yêu cầu đối với các gói xì gà và xì gà nhỏ; và,
  • Yêu cầu bao bì đơn giản và tiêu chuẩn cho các túi / bao thuốc lá do nhà sản xuất thuốc lá cung cấp.

Các biện pháp được đề xuất cho sự xuất hiện của các sản phẩm thuốc lá bao gồm:

  • Chuẩn hóa diện mạo bằng cách chỉ cho phép sử dụng các màu tiêu chuẩn cho thuốc lá và các sản phẩm khác có thể được tô màu (bao gồm: thuốc lá, ống và sản phẩm thuốc lá được sử dụng với thiết bị (ví dụ: màu trắng hoặc Pantone 448C có kết thúc mờ) ;
  • Cho phép hiển thị mã chữ số trên sản phẩm thuốc lá (ví dụ thuốc lá, xì gà nhỏ, xì gà và các sản phẩm thuốc lá được làm hoàn toàn hoặc một phần thuốc lá, được gói trong giấy và dành cho thiết bị) và chuẩn hóa màu, kiểu phông chữ , kích thước, kết hợp thư và vị trí;
  • Cho phép hiển thị tên thương hiệu được chuẩn hóa trên băng xì gà khi xem xét thực tế rằng các sản phẩm thuốc lá này được bán hoặc thiết kế để mang theo không được đóng gói;
  • Yêu cầu màu tiêu chuẩn và cấm thiết kế rõ ràng (ví dụ: rãnh, lỗ hoặc hốc) trên các bộ phận có thể nhìn thấy của bộ lọc thuốc lá;
  • Yêu cầu thuốc lá là một trong hai chiều dài tiêu chuẩn, phản ánh thuốc lá thường xuyên và cỡ vua; và,
  • Yêu cầu đường kính tiêu chuẩn cho thuốc lá và xì gà nhỏ. Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn cho con người

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người và đảm bảo an toàn.

Quy định này dự kiến sẽ được thông qua vào năm 2019.

Hạn góp ý cuối cùng là ngày 24/8/2018.

 

Thông báo của Chile về sữa và pho mát

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHL/442 ngày 24/5/2018, Chile thông báo ban hành bản chưng cầu dân ý cho dự thảo luật đặt ra các quy tắc về chuẩn bị, mô tả và ghi nhãn sản phẩm sữa hoặc sản phẩm có nguồn gốc từ sữa) (4 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Mục đích của dự thảo pháp luật là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Dự thảo luật thiết lập các quy tắc về tiếp thị và ghi nhãn sữa theo đề xuất để đảm bảo việc bảo vệ bằng cách cải thiện các yêu cầu xử lý sữa, bằng cách tăng tính minh bạch và độ tin cậy cho người tiêu dùng, và công nhận các yếu tố cụ thể liên quan đến công việc của các nhà sản xuất sữa quốc gia. i) tên gọi xuất xứ, (ii) thông tin về từng thành phần của sản phẩm sữa và (iii) thông tin về các giai đoạn chế biến khác nhau. Hơn nữa, dự thảo luật thiết lập các quy tắc về việc chuẩn bị, mô tả và ghi nhãn các sản phẩm sữa hoặc các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa, đề xuất đưa vào một điều khoản kèm theo các biện pháp sau:

  1. Định nghĩa về sữa. Một định nghĩa mới đã được tạo ra cho sữa. “Sữa” được hiểu là “(…) sản phẩm lỏng không có sữa non do sữa vắt hoàn toàn và không bị gián đoạn của những con bò khỏe mạnh, được cho ăn đầy đủ và được nghỉ ngơi tốt”.
  2. Định nghĩa sữa hoàn nguyên và các yêu cầu đối với các sản phẩm sữa có chứa sữa hoàn nguyên. Một định nghĩa mới đã được tạo ra cho sữa hoàn nguyên. Sản phẩm này được coi là “(…) sản phẩm thu được hoàn toàn hoặc một phần từ sản phẩm sữa, tương tự hoặc có thể được sử dụng làm chất thay thế cho sữa nước, đặc biệt bằng cách thêm nước uống vào sữa đặc hoặc sữa bột , trong một tỷ lệ như vậy để đáp ứng các yêu cầu được thiết lập trong Điều 203 “(Điều 203 của Quy định Y tế Thực phẩm). Một số yêu cầu được thiết lập liên quan đến quá trình sản xuất. Những điều này liên quan đến cơ bản (i) nhu cầu thanh trùng, xử lý UHT hoặc quá trình tiệt trùng, (ii) sự cần thiết phải ghi lại nguồn gốc của sản phẩm, (iii) nhu cầu chỉ ra lượng sữa được xử lý, tái tạo và tiếp thị, và (iv) sự cần thiết phải chỉ ra lượng sản phẩm sữa được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Đối với việc ghi nhãn bao bì, mô tả “Sữa tăng cường với sữa bột hoàn nguyên” đã được giới thiệu, cũng như các yêu cầu đối với các cơ sở sản xuất sản phẩm này.

  1. Định nghĩa phô mai. Sản phẩm này được định nghĩa là “(…) sản phẩm, đã chín hoặc chưa chín, hoặc rắn hoặc nửa cứng, thu được bằng cách quấy đều sữa không béo hoặc sữa tách kem, kem hoặc sữa, phô mai hoặc sữa whey bơ, được khử trùng đúng cách, hoặc kết hợp các sản phẩm này, sử dụng rennet hoặc các chất làm đông thích hợp khác (các enzim cụ thể được chỉ định hoặc axit hữu cơ), và bằng cách tách một phần whey được sản xuất do sự trầy xước đó “.
  2. Yêu cầu đối với việc chuẩn bị và ghi nhãn các sản phẩm sữa không có nguồn gốc từ bò. Đối với các sản phẩm sử dụng sữa lỏng không phải từ bò, thì phải ghi rõ nguồn gốc của sữa.

Quy định cũng cấm các sản phẩm sử dụng “sữa hoàn nguyên” làm nguyên liệu thô được dán nhãn là “phô mai”; thay vào đó, mô tả “Sản phẩm sữa tương tự như phô mai” hoặc “sản phẩm sữa thay thế pho mát” phải được sử dụng.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người.

 

Thông báo của Colombia về hóa chất

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/COL/232 ngày 25/5/2018, Colombia thông báo ban hành Dự thảo Nghị định quy định quản lý tổng hợp các chất hóa học dùng trong công nghiệp và các quyết định khác (16 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Mục đích; Phạm vi; Các định nghĩa; Dụng cụ quản lý hóa chất dùng trong công nghiệp; Đăng ký chất hóa học dùng trong công nghiệp; Nghĩa vụ thực hiện đánh giá rủi ro môi trường và sức khỏe; Nghĩa vụ thực hiện các chương trình quản lý và giảm thiểu rủi ro về môi trường và sức khỏe; Đánh giá rủi ro môi trường; Đánh giá rủi ro sức khỏe; Chương trình quản lý và giảm thiểu rủi ro môi trường; Chương trình quản lý và giảm nguy cơ sức khỏe; Giám sát môi trường các chất hóa học dùng trong công nghiệp; Giám sát ảnh hưởng đến sức khỏe của việc sử dụng các chất hóa học dùng trong công nghiệp, Điều 15. Ủy ban theo dõi liên ngành về quản lý hóa chất dùng trong công nghiệp (CISQUIN); Thành phần của CISQUIN; Chức năng của CISQUIN; Nghĩa vụ của nhà nhập khẩu và nhà sản xuất; Nghĩa vụ của các nhà tiếp thị và nhà phân phối; Nghĩa vụ của người vận chuyển; Nghĩa vụ của người sử dụng; Dữ liệu đáng tin cậy có sẵn; Chấp nhận dữ liệu lẫn nhau; Quyền sử dụng thông tin; Thông tin không bí mật; Trao đổi thông tin bí mật; Kiểm tra, giám sát và kiểm soát; và Thời hạn hiệu lực.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

 

Thông báo của Colombia về mũ bảo hiểm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/COL/233 ngày 31/5/2018, Colombia thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết của Bộ Giao thông vận tải “về các quy định kỹ thuật của mũ bảo hiểm bảo vệ sử dụng đối với xe gắn máy, xe máy với sidecar, xe máy và ôtô xe cơ giới ba bánh phát hiện, xe lôi mà không taxi, xe gắn máy, xích lô máy, xe lam, ATV và tương tự “(10 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Quy định kỹ thuật thông qua các yêu cầu kỹ thuật và an toàn được thiết lập cho mũ bảo hiểm để sử dụng trên xe máy và các phương tiện khác.

Dự thảo Nghị quyết bao gồm: Đối tượng; Từ viết tắt; Lĩnh vực ứng dụng; Miễn trừ; Yêu cầu ghi nhãn tối thiểu bắt buộc; Yêu cầu kỹ thuật cụ thể, chữ số, và các xét nghiệm áp dụng; Tham khảo các tiêu chuẩn kỹ thuật Colombia NTC; Yêu cầu để chứng minh sự phù hợp; Tài liệu để chứng minh sự phù hợp; Các yếu tố cơ bản của chứng nhận sản phẩm; Tương đương; Thông tin của các tổ chức, kiểm tra và phòng thí nghiệm; Trách nhiệm của các nhà sản xuất, nhập khẩu, tiếp thị và các cơ quan chứng nhận, các tổ chức giám sát và kiểm soát, quyền giám sát và kiểm soát; Chế độ xử phạt, Thẩm quyền của các tổ chức chính phủ khác; Đăng ký doanh nghiệp của nhà nhập khẩu và nhà nhập khẩu Rà soát và cập nhật, chế độ thông báo, Thời gian chuyển tiếp, Điều khoản áp dụng và Bãi bỏ.

Mục đích ban hành nghị quyết này nhằm bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người.

 

Thông báo của EU về thuốc bảo vệ thực vật

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/578 ngày 13/6/2018, EU thông báo ban hành Dự thảo Quy định Thực hiện của Ủy ban liên quan đến việc không gia hạn phê duyệt propiconazole chất hoạt động, theo Quy định (EC) số 1107/2009 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu liên quan đến việc kinh doanh các sản phẩm bảo vệ thực vật trên thị trường, và sửa đổi Quy định thực hiện của Ủy ban (EU) Số 540/2011 (5 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo Quy định Thực thi của Ủy ban này quy định rằng việc phê chuẩn propiconazol chất hoạt tính không được gia hạn theo Quy định (EC) số 1107/2009. Các sản phẩm bảo vệ thực vật được phép hiện có chứa propiconazole sẽ được loại bỏ khỏi thị trường. Việc không phê duyệt dựa trên đánh giá đầu tiên về chất được sử dụng làm chất hoạt động thuốc trừ sâu trong EU theo Quy định (EC) số 1107/2009. Chất này trước đây đã được phê duyệt theo Chỉ thị 91/414 / EEC.

Quyết định này chỉ liên quan đến việc kinh doanh trên thị trường của chất này và không ảnh hưởng đến Mức dư lượng tối đa (MRLs) đối với dư lượng thuốc trừ sâu có liên quan. Tuy nhiên, sau khi không được chấp thuận, hành động riêng biệt có thể được thực hiện trên các MRL. Mọi hành động tiếp theo về MRL sẽ phải được thông báo theo quy trình SPS.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người hoặc an toàn; bảo vệ đời sống hoặc sức khỏe của động vật hoặc thực vật; bảo vệ môi trường.

Để một chất hoạt động được phê duyệt theo Quy định (EC) số 1107/2009 (liên quan đến việc đặt các sản phẩm bảo vệ thực vật trên thị trường), phải chứng minh rằng chất này không gây hại cho sức khỏe con người, sức khỏe động vật hoặc môi trường. Tiêu chí được liệt kê trong Điều 4 của Quy chế (và cũng được nêu chi tiết trong Phụ lục II) phải được đáp ứng để cho phép phê duyệt.

Trong quá trình đánh giá và đánh giá ngang nhau của propiconazol, một số mối quan tâm và khu vực không thể hoàn thành được xác định. Đây là những chi tiết trong kết luận của Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA).

Propiconazol được phân loại là độc đối với loại 1B sinh sản theo Quy định (EC) số 1272/2008 của Nghị viện châu Âu và của Hội đồng.

Dựa trên dữ liệu có sẵn trong hồ sơ, Cơ quan đã kết luận rằng Mức dư lượng tối đa (‘MRLs’) theo Quy định (EC) số 396/2005 của Nghị viện châu Âu và của Hội đồng không thể được xác nhận cho các sản phẩm thực vật và động vật kể từ khi dữ liệu về độ lớn và độc tính của các chất chuyển hóa được bao gồm trong định nghĩa dư lượng để đánh giá rủi ro không có sẵn. Các MRL hiện tại cho việc sử dụng đề xuất propiconazol cao hơn giá trị mặc định theo ý nghĩa của Điều 18 (1) (b) của Quy định (EC) số 396/2005. Vì những lý do đó, nó không thể được coi là tiếp xúc của con người với các hoạt chất là không đáng kể. Do đó, các yêu cầu quy định tại điểm 3.6.4 của Phụ lục II của Quy định (EC) số 1107/2009 không được hoàn thành.

Một mối quan tâm quan trọng đã được xác định bởi Cơ quan liên quan đến sự nhiễm bẩn nước ngầm bằng các chất chuyển hóa của propiconazole. Đặc biệt, chất chuyển hóa NOA436613 được dự đoán sẽ xảy ra trên giá trị paramteric 0,1 μg / L trong tất cả các kịch bản thích hợp cho tất cả các đề xuất sử dụng propiconazol, ngay cả khi chất được sử dụng hai năm một lần. Hai chất chuyển hóa khác được dự đoán xảy ra trong nước ngầm trên 0,1 μg / L trong phần lớn các kịch bản thích hợp.

Ngoài ra, Cơ quan đã kết luận rằng propiconazole gây ra tác dụng độc hại trên các cơ quan nội tiết. Tuy nhiên, đánh giá khoa học để xác định khả năng phá vỡ nội tiết của propiconazole không thể được hoàn thành bởi Cơ quan dựa trên thông tin có sẵn trong hồ sơ.

Hơn nữa, việc đánh giá một số khía cạnh cần thiết để kết luận về nguy cơ cho người tiêu dùng thông qua chế độ ăn uống không thể được hoàn thành dựa trên thông tin có sẵn trong hồ sơ.

Những mối quan tâm này có nghĩa là propiconazol không đáp ứng được các tiêu chí phê duyệt như đã nêu trong Quy định (EC) số 1107/2009 và hiện không thể được phê duyệt. Các ủy quyền hiện tại sẽ cần phải được rút lại; Các nước thành viên EU phải rút các sản phẩm bảo vệ thực vật hiện có chứa propiconazole chậm nhất là 6 tháng kể từ ngày có hiệu lực. Thời hạn ân hạn phù hợp với Điều 46 của Quy chế 1107/2009 được phép và sẽ hết hiệu lực sau 15 tháng kể từ khi có hiệu lực.

Quy định này dự kiến thông qua vào Quý 4 năm 2018.

Hạn góp ý cuối cùng là 60 ngày kể từ ngày thông báo.

 

Thông báo của Guyana về đồ chơi

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GUY/21 ngày 18/6/2018, Guyana thông báo ban hành Quy định Tiêu chuẩn kỹ thuật về ghi nhãn và thử nghiệm đối với đồ chơi và vật để chơi (8 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn này quy định ghi nhãn, chất lượng và ứng dụng cho đồ chơi và đồ chơi được bán tại Guyana, cho dù chúng được sản xuất tại địa phương hay nhập khẩu.

Tiêu chuẩn “Ghi nhãn đồ chơi và đồ chơi” đang được sửa đổi và tiêu đề mới là “Đặc điểm kỹ thuật ghi nhãn và thử nghiệm đồ chơi và đồ chơi”. Nó đã được sửa đổi để bao gồm các phương pháp thử nghiệm để đảm bảo an toàn cho trẻ em.

 

Thông báo của Hàn Quốc về sản phẩm làm sạch và vệ sinh

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/771 ngày 28/5/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Đề xuất sửa đổi đối với “Tiêu chuẩn ghi nhãn cho sản phẩm làm sạch và vệ sinh” (8 trang, bằng tiếng Hàn).

Mục đích của quy định này là thiết lập các tiêu chuẩn về các yêu cầu ghi nhãn và phương pháp ghi nhãn cho các sản phẩm làm sạch và vệ sinh.

Các sửa đổi được đề xuất tìm cách: Thiết lập tiêu chuẩn ghi nhãn cho từng sản phẩm vệ sinh (khăn lót dùng một lần và khăn giấy khô để lau ướt) có tính đến đặc điểm của hai sản phẩm vệ sinh được chỉ định bởi Đạo luật kiểm soát vệ sinh và làm sạch.

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Hàn Quốc về sản phẩm làm sạch và vệ sinh

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/777 ngày 25/6/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Đề xuất sửa đổi “Tiêu chuẩn ghi nhãn cho thực phẩm” (176 trang, bằng tiếng Hàn)

Các sửa đổi được đề xuất đối với “Quy định về tiêu chuẩn ghi nhãn cho thực phẩm” nhằm:

– Lồng ghép các ‘tiêu chuẩn ghi nhãn cho thực phẩm’ và ‘tiêu chuẩn ghi nhãn cho vật nuôi’ phù hợp với Đạo luật về ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm mới được công bố (ngày 13 tháng 3 năm 2018), v.v.

– Tổ chức lại “nội dung ghi nhãn và tiêu chuẩn ghi nhãn cho từng loại sản phẩm thực phẩm” để phản ánh các loại thực phẩm mới được quy định trong “Quy định về tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật cho thực phẩm” sửa đổi.

Sau đây là những thay đổi được thực hiện trong bản sửa đổi:

– Đánh dấu “OEM” trong ghi nhãn sản phẩm chăn nuôi của sản xuất thiết bị gốc (OEM) để chỉ ra rằng các sản phẩm chăn nuôi là sản phẩm OEM.

– Thêm “hạt thông” vào danh sách các chất gây dị ứng cần được chỉ định trong ghi nhãn sản phẩm chăn nuôi.

– Dán nhãn tên và nội dung của các thành phần tương ứng với phông chữ ít nhất 12 pt khi ghi nhãn tên của một thành phần trên bảng hiển thị chính.

Mục đích ban hành sửa đổi này nhằm cung cấp thông tin tốt hơn cho người tiêu dùng, quảng bá sức khỏe cộng đồng

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Đài Loan về thực phẩm biến đổi gien

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/325 ngày 20/6/2018, Đài Loan thông báo ban hành Dự thảo quy định về các yêu cầu ghi nhãn tại các địa điểm bán thực phẩm cho thực phẩm có chứa các thành phần của sinh vật biến đổi gien (GMO). (2 trang, bằng tiếng Anh, 2 trang, bằng tiếng Trung Quốc)

Dựa trên các quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế đề xuất yêu cầu ghi nhãn tại các địa điểm bán thực phẩm cho thực phẩm chứa các thành phần của sinh vật biến đổi gien (GMO) để cung cấp cho người tiêu dùng quyền lựa chọn.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn.

Thời hạn dự kiến có hiệu lực: ngày 1 tháng 7 năm 2020

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Đài Loan về thực phẩm biến đổi gien

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/326 ngày 20/6/2018, Đài Loan thông báo ban hành Dự thảo các quy định sau: 1. Dự thảo sửa đổi về các yêu cầu ghi nhãn đối với thực phẩm đóng gói sẵn có chứa các thành phần của sinh vật biến đổi gien; 2. Dự thảo sửa đổi các yêu cầu ghi nhãn đối với phụ gia thực phẩm có chứa thành phần sinh vật biến đổi gien; 3. Dự thảo sửa đổi về các yêu cầu ghi nhãn đối với thực phẩm chưa đóng gói có chứa các thành phần của sinh vật biến đổi gien. (12 trang, bằng tiếng Anh, 6 trang, bằng tiếng Trung Quốc)

Mục đích của các sửa đổi được đề xuất là để xác định rõ hơn rằng thực phẩm đóng gói sẵn, phụ gia thực phẩm và thực phẩm không đóng gói có chứa thành phần không biến đổi gien có thể được dán nhãn “không biến đổi gien” hoặc “có biến đổi không di truyền” chỉ khi việc phê duyệt trong nước áp dụng đối với những sản phẩm biến đổi gien .

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn.

Thời hạn dự kiến có hiệu lực: ngày 1 tháng 7 năm 2020

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Nam Phi về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ZAF/230 ngày 27/6/2018, Nam Phi thông báo ban hành Các quy định liên quan đến việc phân loại, đóng gói và ghi nhãn đối với quả đào và quả xuân đào dự định bán tại Cộng hòa Nam Phi (13 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo quy định nêu rõ các đặc tính kỹ thuật liên quan đến phân cấp/phân loại, tiêu chuẩn cho các loại, ghi nhãn, đóng gói, thủ tục lấy mẫu và phương pháp kiểm tra cho nhãn đối với quả đào và quả xuân đào.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn; Ngăn chặn các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng

Thời hạn góp ý: 60 ngày kể từ ngày thông báo

(Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Quy định phân luồng trong quy trình cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi

*******

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số15/2018/TT-BCT quy định về việc phân luồng trong quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi.

Thông tư này quy định về việc phân luồng trong quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi.

Thông tư này áp dụng đối với thương nhân đề nghị cấp C/O ưu đãi; Cơ quan, tổ chức cấp C/O ưu đãi theo Điều ước quốc tế và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Cụ thể về việc phân luồng như sau:

– Luồng Xanh: Thương nhân được ưu tiên miễn, giảm, nộp chậm chứng từ, giảm thời gian cấp C/O và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa khi đề nghị cấp C/O;

– Luồng Đỏ: Cần kiểm soát trong cấp C/O ưu đãi, thương nhân phải nộp chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa đối với tất cả các lô hàng, được yêu cầu kiểm tra thực tế  hàng hóa khi đề nghị cấp C/O;

– Luồng Thông thường: Chế độ hiện hành trong quy trình cấp C/O ưu đãi theo Nghị định 31/2018/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Nếu thương nhân xuất khẩu mặt hàng áp dụng chế độ Luồng Đỏ theo Điều 7 Thông tư 15 nhưng có kết quả kiểm tra thực tế cơ sở sản xuất và xác nhận đủ năng lực sản xuất của cơ quan, tổ chức cấp C/O ưu đãi thì được phép chuyển từ luồng đỏ sang luồng thông thường.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2018 ./.

Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

*******

Ngày 5/7/2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Nghị định này quy định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp (sau đây gọi chung là sản phẩm nông nghiệp).

Nghị đinh áp dụng với các đối tượng: Nông dân, chủ trang trại, người được ủy quyền đối với hộ nông dân, tổ hợp tác (sau đây gọi chung là nông dân); Cá nhân, người được ủy quyền đối với nhóm cá nhân, hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh (sau đây gọi chung là cá nhân); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã); Doanh nghiệp; Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Tại nghị định đưa ra 7 loại hình liên kết, ứng với mỗi loại hình liên kết thì các bên tham gia liên kết ở nội dung nào thì được hưởng chính sách hỗ trợ ở nội dung đó. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các nội dung liên kết theo hợp đồng, dự án liên kết để quyết định hỗ trợ theo quy định tại Nghị định.

Nghị định cũng đưa ra những điều kiện để các bên tham gia nhận được hỗ trợ liên kết, Cụ thể:

– Dự án liên kết phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương;

– Có giấy chứng nhận hoặc cam kết bảo đảm các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường;

– Liên kết bảo đảm ổn định: Đối với sản phẩm nông nghiệp có chu kì nuôi, trồng, khai thác từ 01 năm trở lên, thời gian liên kết tối thiểu là 05 năm; chu kì nuôi, trồng, khai thác dưới 01 năm thì thời gian liên kết tối thiểu là 03 năm;

– Dự án liên kết hoặc kế hoạch đề nghị hỗ trợ liên kết phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Đồng thời Nghị định cũng đưa ra mức hỗ trợ chi phí đối với: tư vấn xây dựng liên kết; hạ tầng phục vụ liên kết; khuyến nông, đào tạo, tập huấn và giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm;

Nghị định 98/2018/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ 20/8/2018.

(Nguyễn Thị Thắng)

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Hệ thống bán buôn rau quả tại Úc

*******

Doanh số bán buôn rau quả giai đoạn 2010-2015 đã tăng tới 3,8% mỗi năm, một con số khá ấn tượng so với nhiều ngành hàng bán buôn khác. Điểm thuận lợi đó là nhu cầu tiêu dùng rau quả tươi của người dân Úc vẫn đang trên đà tăng trưởng.

Doanh số bán buôn rau quả giai đoạn 2010-2015 đã tăng tới 3,8% mỗi năm, một con số khá ấn tượng so với nhiều ngành hàng bán buôn khác. Điểm thuận lợi đó là nhu cầu tiêu dùng rau quả tươi của người dân Úc vẫn đang trên đà tăng trưởng. Trong thời gian qua đã có những cuộc vận động, tuyên truyền về tác dụng của việc ăn rau quả tươi trong việc ngăn ngừa bệnh tật trong đó có giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và ung thư. Vì vậy mà ngày càng có nhiều người dân Úc có khuynh hướng ăn nhiều rau quả hơn và hạn chế các đồ ăn gây béo phì, đồ ăn chứa nhiều thịt, gây hệ quả không tốt, lâu dài đối với sức khỏe.

Bên cạnh đó doanh thu gia tăng một phần đáng kể là do giá cả rau quả đã tăng cao. Trong thời gian qua, nguồn cung rau quả bị thiếu hụt do thời tiết không thuận lợi, chi phí đầu vào gia tăng đã đẩy giá rau quả tăng lên. Bên cạnh đó, các siêu thị như Coles và Woolworths để ký kết hợp đồng trực tiếp với các trang trại sản xuất rau quả cũng tạo ra những thách thức lớn đối với ngành hàng bán buôn rau quả, góp phần làm cho giá cả tăng cao.

Mặc dù có sự vượt trội của các siêu thị trong việc khống chế nguồn hàng thì các doanh nghiệp bán buôn ngành hàng rau quả cũng có những khối khách hàng riêng mà các siêu thị lớn không thể cạnh tranh được đó là các khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, quán bia rượu, căng tin ăn uống ở các doanh nghiệp, công sở, trường học, bệnh viện. Đây là khối khách hàng giúp tạo ra sự ổn định và duy trì tăng trưởng cho doanh thu bán buôn rau quả. Điểm thuận lợi đó là xu thế tiêu dùng của người dân Úc trong thời gian qua và sắp tới là ưa thích ăn ở nhà hàng.

  1. Thị phần bán buôn

(i) Costa Group Holdings Pty Ltd:thị phần 2,7%

Costa Group Holdings Pty Ltd là công ty của Úc tham gia bán buôn thông qua chi nhánh Costa Exchange Ltd. Costa Exchange chuyên sản xuất, chế biến và phân phối các sản phẩm tươi sống như quả bơ, chuối, nấm, cà chua và nho.

http://listings.fta-companies-au.com/l/101725031/Costaexchange-Pty-Ltd-in-Ravenhall-VIC

(ii) King Holding Company 1 Pty Limited: thị phần 2,2%

King Holding Company 1 Pty Limited mới bắt đầu hoạt động từ năm 2013 sau khi Moraitis Group Pty Ltd được mua lại. Moraitis Group vừa trồng, đóng gói và bán buôn rau quả tươi như chuối, cà chua, khoai tây, hành, dưa hấu, cherry, bơ và dâu.

King Holding Company 1 Pty Limited có cơ sở vật chất, mạng lưới bán buôn vững chắc nên đã đứng vững bất chấp xu thế diễn ra trong thời gian vừa qua là khâu bán buôn bị bỏ qua trong nhiều thương vụ kinh doanh.

(iii) Perfection Fresh Australia Pty Ltd:thị phần 1,1%

Perfection Fresh là doanh nghiệp cung cấp sản phẩm tươi sống thuộc sở hữu gia đình. Công ty hoạt động ở các khâu trong chuỗi cung ứng là sản xuất, đóng gói và bán buôn. Công ty có trụ sở chính tại Sydney và có 500 nhân viên, 13 trang trại và phương tiện sản xuất ở khắp nước Úc.

Hình thức hoạt động của công ty khá đa dạng từ sở hữu gia đình đến liên kết với trang trại gia đình hộ nông dân đơn lẻ và một số cơ sở liên doanh ví dụ như  D’VineRipehttp://www.dvineripe.com.au/, Agri-Fresh http://www.agrifresh.com.au  và Parwan Valley Mushrooms http://www.parwanvalley.com.au/.

  1. Kênh bán buôn

(i) Các cửa hàng tạp hóa, chiếm 37,7%, là khối khách hàng lớn nhất của ngành hàng bán buôn rau quả do các cửa hàng thuộc loại này thường tập trung vào việc kinh doanh rau quả cho dù bán nhiều mặt hàng tạp hóa khác. Tuy nhiên, một số các cửa hàng tạp phẩm có quy mô lớn cũng tìm cách bỏ qua khâu trung gian để ký thẳng hợp đồng với các trang trại. Ngoài ra, các cửa hàng này cũng có thể mua rau quả trực tiếp tại các chợ bán buôn rau quả như chợ Sydney hoặc chợ Brisbane.

Chợ bán buôn rau quả Sydney:

http://www.sydneymarkets.com.au/markets/produce-market/product-market-overview.html

Chợ bán buôn rau quả Brisbane:

http://www.brisbanemarkets.com.au/brisbane-produce-market/how-the-produce-market-works/

(ii) Siêu thị,chiếm 27,4%, mặc dù các siêu thị lớn đã bỏ qua khâu bán buôn nhưng không phải tất cả các mặt hàng họ đều bỏ qua trung gian. Các siêu thị thường sẽ mua qua trung gian những sản phẩm thuộc loại “thị trường ngách” có mức độ tiêu thụ không lớn nhưng được một bộ phận khách hàng nhất định ưa thích, chấp nhận trả giá cao hơn ví dụ như thị trường rau quả hữu cơ. Bên cạnh đó, các siêu thị cỡ nhỏ cũng ưa mua hàng quan khâu trung gian hơn vì không đủ điều kiện để mua hàng trực tiếp từ các trang trại.

(iii) Cửa hàng ăn nhanh, chiếm 15,4%, cũng đang được hưởng lợi nhờ xu thế ăn ngoài nhà hàng của người Úc ngày càng trở nên thịnh hành trong đó người tiêu dùng ưa thích món ăn có salad nói riêng và rau quả tươi nói chung. Điển hình cho các cửa hàng ăn nhanh dạng này là Subway www.subway.com.au/catering , Sumo Salads sumosalad.com và Boost Juice www.boostjuice.com.au.

(iv) Nhà hàng, quán cà phê,chiếm 12,1%,cũng là khối khách hàng quan trọng của ngành bán buôn rau quả. Bản thân các nhà hàng và quán cà phê cũng cần các doanh nghiệp bán buôn, muốn mua sản phẩm rau quả từ người bán buôn vì giá cả hợp lý do các nhà hàng và quán cà phê quá nhỏ bé, rất khó có thể đàm phán với mạng lưới cung ứng của siêu thị để giảm giá.

Một số điểm lưu ý trong quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Brazil

*******

Thị trường đông dân, có sức mua lớn, Bra-xin là nước có dân số trẻ và là xã hội hướng đến tiêu dùng.

Năm 1989, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, tổng kim ngạch thương mại hai chiều chỉ đạt 16 triệu USD.  Đến năm 2017, theo thông tin mới công bố của Bộ Công Thương Bra-xin, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Bra-xin đạt 3,92 tỉ USD, tăng khoảng 30% so với năm 2016. Trong đó, Bra-xin nhập khẩu từ Việt Nam trị giá đạt 2,19 tỉ USD, Bra-xin xuất khẩu sang Việt Nam trị giá 1,73 tỉ USD, Bra-xin nhập siêu từ Việt Nam gần 460 triệu USD.

*/ Các thỏa thuận đã ký kết:

Hai bên đã ký nhiều hiệp định và thỏa thuận hợp tác như Thoả thuận về tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao (10/1995); Hiệp định về hợp tác văn hoá; Thoả thuận về hợp tác giữa hai Phòng Thương mại (10/2003); Thoả thuận về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao (11/2004); Hiệp định về Hợp tác Y tế (5/2007); Bản Ghi nhớ thành lập Ủy ban Hỗn hợp, Hiệp định Hợp tác khoa học và công nghệ, Bản Ghi nhớ về hợp tác chống đói nghèo, Bản Ghi nhớ về hợp tác thể thao, Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) và Ngân hàng Bra-xin S.A (7/2008); Thỏa thuận Kế hoạch hành đồng Xóa đói nghèo giữa Bộ Lao động Thương binh và xã hội Việt Nam và Bộ Phúc lợi Xã hội Xóa đói nghèo Bra-xin  (4/2012)… Hiện tại Việt Nam có cơ chế hợp tác trong Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế thương mại với Bra-xin.

*/ Đánh giá tiềm năng thị trường:

  1. Cơ hội:

– Thị trường đông dân, có sức mua lớn, Bra-xin là nước có dân số trẻ và là xã hội hướng đến tiêu dùng.

– Chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, Bra-xin được đánh giá là nước rất tích cực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt là nhằm vào các nước xuất khẩu có trị giá kim ngạch lớn với Bra-xin. Việc đánh thuế phòng vệ cao đối với nhiều mặt hàng của một số nước làm cho các nhà nhập khẩu Bra-xin có xu hướng tìm kiếm các nhà cung cấp mới ở các thị trường mới trong đó có Việt Nam.

– Sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn do chính sách thuế và lao động như nói ở trên làm cho nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng sẽ tăng trưởng ổn định.

– Bra-xin tuy ưu tiên phát triển nông nghiệp nông thôn, nhưng lại chú trọng các sản phẩm chăn nuôi và ngũ cốc, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và thị hiếu ưa thích thủy sản của người dân.  Đây có thể là một lợi thế trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường này.

  1. Thách thức, khó khăn:

– Một số hàng hóa công nghiệp và tiêu dùng của Việt Nam tiếp tục phải đối diện hoặc nguy cơ đối diện với các biện pháp phòng vệ thương mại của Bra-xin.

– Thủy sản tiếp tục là đối tượng áp dụng các hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch, kiểm hóa và quy cách bao bì đóng gói của cơ quan chức năng nước sở tại.

– Thuế nhập khẩu cao, quan hệ lao động phức tạp tiếp tục là rào cản đối với các doanh nghiệp xuất khẩu muốn mở văn phòng, chi nhánh thúc đẩy xuất khẩu sang Bra-xin.

  1. Một số đề xuất về các lĩnh vực tiềm năng của thị trường đối với doanh nghiệp Việt Nam

– Công nghiệp (ngoài điện thoại) các mặt hàng như máy tính, sản phẩm sắt thép, sản phẩm cao su, sơ xợi dệt, nguyên phụ liệu dệt may, giày da

– Mặt hàng tiêu dùng: giầy dép, túi xách, va li, dù..

– Nông sản: fillet cá tra, tôm (khẩn trương đàm phán mở cửa thị trường cho mặt hàng tôm)

Mặc dù là nước có lực lượng sản xuất lớn nhưng thực tế ngành sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn do chính sách thuế và lao động phức tạp làm cho nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng sẽ tăng trưởng ổn định. Thêm vào đó là nhu cầu hưởng thụ của người bản xứ rất cao nên đây là sẽ lợi thế đối với các mặt hàng thời trang nhập khẩu với giá thành tốt như hàng giày dép, dệt may.

Bra-xin là một trong những nhà sản xuất nông sản lớn của thế giới nhưng đa phần là xuất khẩu sản phẩm thô và nguyên liệu chế biến. Chính phủ đang định hướng đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chủ lực là các sản phẩm chăn nuôi và ngũ cốc. Trong khi, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và thị hiếu ưa thích thủy sản của người dân vì một phần đang tập trung phát triển ngành chăn nuôi và chế biến thịt (thịt bò, gà, heo và cừu) nên giá cả các sản phẩm thủy sản tươi sống ở Bra-xin cao hơn nhiều so với thịt.  Đây có thể là một lợi thế trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường này. Mức tiêu thị cá của người Bra-xin hiện chỉ bằng 50% so với khuyến cáo của WTO. Bộ nông nghiệp Bra-xin cho biết 60% hàng thủy sản đều nhập khẩu từ các quốc gia khác. Tuy nhiên, Bra-xin đang tăng cường kiểm tra, kiểm soát các loại thủy sản nhập khẩu vào nước này, đặc biệt là tiêu chuẩn an toàn thực phẩm các mặt hàng thủy sản bị giám sát chặt chẽ, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bị cảnh báo đưa vào diện kiểm tra 100% dư lượng kháng sinh, hóa chất trong sản phẩm.

Mặt hàng tôm đông lạnh chưa được nhập khẩu vào Bra-xin từ Việt Nam, trong khi nhu cầu tiêu thụ tôm của người dân tăng gấp 4 lần so với năng lực sản xuất trong nước. Theo đánh giá thì ngành tôm Bra-xin giảm 40% sản lượng do ảnh hưởng của bệnh đốm trắng nên chỉ có Ecuador xuất khẩu tôm sang Braxin.[1]

Một số vấn đề khi tiếp cận/thâm nhập thị trường

*Các quy định về XNK

Các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu Bra-xin phải đăng ký với Ban Thư ký Ngoại thương (SECEX)- một chi nhánh của Bộ Phát triển Công nghiệp và Thương mại (MDIC).

Tùy thuộc vào sản phẩm, chính quyền Bra-xin có thể yêu cầu thêm tài liệu. Ví dụ, Bộ Y tế kiểm soát tất cả các sản phẩm có thể ảnh hưởng đến cơ thể con người, bao gồm dược phẩm, vitamin, mỹ phẩm và thiết bị / dụng cụ y tế. Các sản phẩm này chỉ có thể được nhập khẩu và bán tại Bra-xin nếu công ty nước ngoài thành lập một đơn vị sản xuất tại Bra-xin hoặc văn phòng địa phương hoặc công ty nước ngoài chỉ định nhà phân phối Bra-xin được cơ quan chức năng Bra-xin ủy quyền nhập khẩu và phân phối các sản phẩm y tế. Các sản phẩm này phải được đăng ký với Bộ Y tế Bra-xin. Quá trình đăng ký thường phức tạp và tốn thời gian. chi tiết về tài liệu tại trang web: http://www.portalsiscomex.gov.br/

* Chính sách thuế và thuế suất

Hàng hóa nhập khẩu phải chịu một số thuế và phí ở Bra-xin. Có bốn loại thuế chiếm phần lớn chi phí nhập khẩu: Thuế nhập khẩu (II), Thuế sản phẩm công nghiệp (IPI) và Thuế lưu thông hàng hóa và dịch vụ (ICMS) và Thuế đóng góp xã hội  – PIS và COFINS.

Chính phủ Bra-xin đã thiết lập một hệ thống thông tin trên máy vi tính để theo dõi nhập khẩu và tạo điều kiện cho thủ tục hải quan được gọi là Hệ thống Tích hợp Ngoại thương (SISCOMEX). SISCOMEX đã tạo điều kiện và giảm số lượng giấy tờ cần thiết để nhập khẩu vào Bra-xin. Nhà nhập khẩu Bra-xin phải đăng ký với Cơ quan đăng ký xuất nhập khẩu của Ban Thư ký Ngoại thương (SECEX) để nhận mật khẩu do Hải quan cung cấp để có thể truy cập vào SISCOMEX. SISCOMEX đăng ký trực tuyến tạo ra các tài liệu nhập khẩu điện tử và truyền thông tin đến một máy tính trung tâm. Thông tin thêm có sẵn tại trang web:

http://www.mdic.gov.br/comercio-exterior/estatisticas-de-comercio-exterior-9/arquivos-atuais

*Quy định về bao bì, nhãn mác

Luật bảo vệ người tiêu dùng của Bra-xin yêu cầu ghi nhãn sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng thông tin chính xác và dễ đọc về chất lượng, số lượng, thành phần, giá, đảm bảo, thời hạn sử dụng, nguồn gốc và rủi ro đối với sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng. Các sản phẩm nhập khẩu phải mang bản dịch tiếng Bồ Đào Nha của thông tin này. Sản phẩm phải được dán nhãn theo đơn vị số liệu hoặc hiển thị số liệu tương đương.

http://www.slcomex.com.br/noticias/etiquetas-rotulos-e-embalagem-de-produtos-importados-nacionais-e-para-exportacao?lang=ptbr

* Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch – các hàng rào kỹ thuật chính đối với thương mại (tiêu chuẩn và quy chuẩn, sổ hữu trí tuệ )

Kể từ năm 2016, Bra-xin thắt chặt công tác kiểm soát chất lượng cá file đông lạnh nhập khẩu trước khi được thông quan  được tiến hành bởi cơ quan thanh tra dịch vụ liên bang (SIF) để đảm bảo rằng các sản phẩm nhập khẩu là an toàn cho người tiêu dùng. Sản phẩm nào không đạt chuẩn sẽ được thông báo trên trang website của Bộ Nông Nghiệp, Chăn nuôi và Cung ứng thực phẩm (MAP).[2] Từ tháng 8/2016, Bộ này đã quy định trong bản hướng dẫn số 31 giới hạn tỷ lệ nước trên bề mặt cá (đóng băng cá) là 12%. Lượng nước này phải được trừ đi khi tính trong trọng lượng tịnh của sản phẩm và phải thông báo cho người tiêu dùng.[3]

Chi tiết xem tại:  http://higienealimentar.com.br/legislacao/instrucao-normativa-no-31-de-09-junho-de-2017-mapa-165.html

* Tập quán kinh doanh các nét chính trong văn hóa kinh doanh của nước sở tại doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý.

Thành công trong văn hóa kinh doanh của Bra-xin phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển mạnh mẽ của các mối quan hệ cá nhân, đây được xem là nền tảng của các quan hệ đối tác kinh doanh hiệu quả. Trong hầu hết các trường hợp, các công ty Việt Nam cần có sự hiện diện tại địa phương và do đó nên đầu tư thời gian vào việc phát triển các mối quan hệ thông qua các chuyến thăm thường xuyên đến Bra-xin để gặp gỡ trực tiếp với các đối tác tiềm năng và cung cấp các dịch vụ, thông qua đó các công ty có thể gặp gỡ khách hàng hoặc đối tác tiềm năng các cuộc họp cá nhân.  Đồng thời tránh được các hiện tượng lừa đảo trên mạng internet giả mạo các Công ty lớn của Bra-xin.

* Văn hóa – xã hội – Số ng­ười biết đọc, biết viết đạt 83,3%, nam: 83,3% và nữ: 83,2%.

Giáo dục bắt buộc miễn phí tiểu học 8 năm (từ 6 đến 14 tuối); hệ thống trung học 3 năm, sau bắt buộc phải qua tr­ường đào tạo nghề. Tuyển sinh vào đại học rất nghiêm ngặt, nhất là y khoa và kỹ thuật. Trước khi thi vào đại học phải học một năm dự bị. Bra-xin có hàng trăm trường đại học và viện nghiên cứu. Hệ thống y tế chưa phát triển, nhất là ở nông thôn.

Tuổi thọ trung bình đạt 64,06 tuổi nam 59,35 và nữ 69,01 tuổi.

* Lịch sử – Năm 1497, Va-xe-ô đờ Ga-ma tình cờ đặt chân lên đất Bra-xin.

Năm 1500, Pê-đơ-rô Cáp-bơ-ran (1467-1526) bắt đầu khai khẩn Bra-xin cho Bồ Đào Nha. Từ năm 1532, đường bắt đầu đ­ược sản xuất. Công việc tại các đồn điền lúc đầu do các nô lệ da đỏ bản làm, về sau họ đư­ợc thay thế bằng các nô lệ châu Phi. Vào thế kỷ XVII và XVIII, việc mở rộng vùng phía nam và phía tây trong cuộc tìm kiếm vàng và kim cư­ơng đã dẫn đến xung đột git-a người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở các khu vực biên giới. Năm 1808, Pháp đe dọa xâm l­ược Bồ Đào Nha và hoàng tộc Bồ Đào Nha chạy trốn sang Bra-xin. Quan nhiếp chính Đôm Giô-ao khởi x­ướng các cải cách, làm cho Bra-xin trở nên ngang hàng với Bồ Đào Nha. Năm 1821, Đôm Giô-ao quay về Bồ Đào Nha làm vua và để lại con trai của mình là Đôm Pê-đơ-rô làm nhiếp chính. Khi Bồ Đào Nha muốn đ­a Bra-xin trở lại chế độ thuộc địa thì Đôm Pê-đơ-ro tuyên bố Bra-xin độc lập và tự xư­ng là Hoàng đế, vào năm 1822. Bị thua trong chiến tranh với Ác-hen-ti-na năm 1828, Pê- đơ rô đã như­ờng ngôi cho con trai (năm 1831). Thời kỳ trị vì kéo dài của Hoàng đế Pê-đơ-rô II mang lại ổn định, kinh tế phát triển. Việc chống đối của các địa chủ bất bình trư­ớc vấn đề thủ tiêu chế độ nô lệ vào năm 1888 và của phái quân sự, do bị loại ra khỏi chính tr­ường, đã dẫn đến một cuộc đảo chính trong năm 1889, chấm dứt chế độ quân chủ. Hiến pháp cộng hòa ban hành năm 1891.

Trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa, tình hình yên ổn, sau đó bất ổn định nổi lên. Năm 1930, Giê-tu-li-ô Va-gát lên nắm quyền; năm 1937, ya-gát giải tán Quốc hội, muốn xây dựng Bra-xin theo mô hình nư­ớc Ý của Mút-xô-li-ni, nh­ng đã bị phái quân sự lật đổ vào năm 1945. Năm 1950, Va-gát đư­ợc bầu lại làm Tổng thống, như­ng ông đã tự sát còn hơn là để ng­ười ta kết tội vào năm 1954. Các chính phủ dân sự kế tiếp nhau tồn tại trong những thời gian ngắn trư­ớc khi phái quân sự lên cầm quyền từ năm 1964: Trong thời gian cầm quyền của phái quân sự (từ 1964 đến 1985), kinh tế phát trịển nhanh, tuy nhiên Các quyền chính tự và xã hội lại bị hạn chế. Bra-xin quay trở lại với chính quyền dân sự từ năm 1985.

* Du lịch:

Tính đến năm 2017, Bra-xin có 21 di sản thế giới được UNESCO công nhận bao gồm mười bốn địa điểm văn hóa và bảy địa điểm tự nhiên.

Địa danh được nhắc đến nhiều nhất là Rio de Janeiro nổi tiếng với lễ hội Carnaval hàng năm vào tháng 2 với nhiều bãi biển đẹp và tượng chúa tại núi Corcovado. Ngoài ra Bra-xin còn rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng khác có giá trị về mặt lịch sử và thiên nhiên.

Địa điểm đầu tiên ở Bra-xin, Thị trấn Lịch sử Ouro Preto, được ghi vào danh sách tại Kỳ họp thứ 4 của Ủy ban Di sản Thế giới, được tổ chức tại Paris, Pháp vào năm 1980.  Năm 1983, Jesuit Missions of the Guaranis được công nhận bởi UNESCO trong một hồ sơ nộp chung với Argentina, nơi đây trở thành tài sản xuyên biên giới đầu tiên của Bra-xin. Vườn quốc gia Iguaçu (có thác Iguaçu lớn thứ bảy trên thế giới) đã được ghi nhận vào năm 1986 vì vẻ đẹp tự nhiên hùng vỹ của nó. Đóng góp mới nhất của Bra-xin cho Danh sách Di sản Thế giới là khu khảo cổ Valongo Wharf, được ghi nhận vào năm 2017.

Khu bảo tồn thiên nhiên trung tâm rừng Amazon đây là khu vực được bảo vệ lớn nhất trong lưu vực sông Amazon, khu vực này nổi tiếng với đa dạng sinh học cao, một loạt các sinh cảnh như rừng khum và igapó và số lượng các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng. Được UNESCO công nhận năm 2000.

Ngoài các địa danh đã được công nhận, Bra-xin cũng đang đề xuất hai mươi ba địa danh trong danh sách dự kiến ​​nộp lên UNESCO của mình.

Để du lịch Braxin, du khách cần có thị thực (visa). Chi tiết thủ tục vui lòng xem thêm tại website http://hanoi.itamaraty.gov.br/vi/br_phrn_lanh_sr.xml

* Đầu mối liên hệ hỗ trợ xử lý các vướng mắc thương mại (ở VN và tịa địa bàn)

Đại sứ quán Bra-xin tại Việt Nam

Phòng 4-01, tầng 4, 44B Lý Thường Kiệt, Hà Nội, Việt Nam – Tel: (84 4) 3843 2544, Fax: (84 4) 3843 2542, E-mail: brasemb.hanoi@itamaraty.gov.br

Cán bộ thương mại:

– Các sản phẩm nông nghiệp: Bui Huyen Anh

– Các sản phẩm công nghiệp: Le  Thi Thu Hang

Đại sứ quán Bra-xin tại Việt Nam – Bộ phận Thương vụ Việt Nam tại Sao Paulo:

Địa chỉ: Rua Paulo Orozimbo, 675-Conj. 91;92 CEP: 015-35001- Bairro da Aclimação; São Paulo – SP – Brasil

Điện thoại: (+55) 11 32766776

Email: br@moit.gov.vn, ecoviet@terra.com.br

Fax: (+55) 11 2537 8040

 (Lê Thành Kông)

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Thẩm quyền của Thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực khoa học và công nghệ như thế nào khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

Trả lời: Tại Điều 34, Nghị định 119/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa thẩm quyền của Thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cụ thể như sau.

  1. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đang thi hành công vụ có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 1.000.000 đồng đối với tổ chức;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.
  6. Chánh Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Sở Khoa học và Công nghệ; Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng có quyền:
  7. a) Phạt cảnh cáo;
  8. b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;
  9. c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
  10. d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

  1. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Khoa học và Công nghệ có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền trong lĩnh vực đo lường đến 70.000.000 đồng đối với cá nhân và 140.000.000 đồng đối với tổ chức; phạt tiền trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa đến 105.000.000 đồng đối với cá nhân và 210.000.000 đồng đối với tổ chức;
  4. c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
  5. d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền quy định tại điểm b khoản này;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

  1. Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này;
  4. c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
  5. d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

 

********

Hỏi: Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân như thế nào khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng?

Trả lời: Tại Điều 35, Nghị định 119/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cụ thể như sau.

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.
  6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:
  7. a) Phạt cảnh cáo;
  8. b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;
  9. c) Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định, giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp;
  10. d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền quy định tại điểm b khoản này;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ e, g, h và i khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này;
  4. c) Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định, giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp;
  5. d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

 

********

Hỏi: Thẩm quyền của Quản lý thị trường như thế nào khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng?

Trả lời: Tại Điều 38, Nghị định 119/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa thẩm quyền của quản lý thị trường cụ thể như sau.

  1. Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân và 1.000.000 đồng đối với tổ chức.
  4. Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền:
  5. a) Phạt cảnh cáo;
  6. b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với cá nhân và 50.000.000 đồng đối với tổ chức;
  7. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
  8. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h và i khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.
  9. Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương, Trưởng phòng chống buôn lậu, Trưởng phòng chống hàng giả, Trưởng phòng kiểm soát chất lượng hàng hóa thuộc Cục Quản lý thị trường có quyền:
  10. a) Phạt cảnh cáo;
  11. b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và 100.000.000 đồng đối với tổ chức;
  12. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
  13. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

  1. Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
  5. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

(Nguyễn Thị Thắng)

Facebook Comments