Bản tin TBT Tháng 12/2018

Post by: admin - Post date: Saturday, Dec 15, 2018 | 3:33 - View count: 56

TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về ghi nhãn thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/451, G/TBT/N/BHR/555, G/TBT/N/KWT/442, G/TBT/N/OMN/388, G/TBT/N/QAT/553, G/TBT/N/SAU/1095, G/TBT/N/YEM/156, ngày 13/11/2018, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gọi tắt là GCC gồm: Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật GCC về Yêu cầu về ghi nhãn dinh dưỡng (20 trang), bằng tiếng Ả Rập; 14 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng để kiểm soát dữ liệu ghi nhãn dinh dưỡng và áp dụng cho tất cả các sản phẩm thực phẩm đóng gói, ngoại trừ các sản phẩm được đề cập trong quy định này.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; và cho các mục đích khác.

Ngày dự kiến áp dụng: 180 ngày kể từ ngày xuất bản phiên bản được phê duyệt.

Ngày dự kiến có hiệu lực: 180 ngày kể từ ngày xuất bản phiên bản được phê duyệt.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Burundi về bao bì

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BDI/8, ngày 31/10/2018, Burundi thông báo ban hành Nghị định số 100/099 ngày 08/08/2018 về việc cấm nhập khẩu, sản xuất, tiếp thị và sử dụng bao túi và bao bì nhựa khác. (6 trang, tiếng Pháp)

Nghị định này nhằm:

– thiết lập một khung kiểm soát cho việc sử dụng gói và bao bì khác;

– thúc đẩy việc sử dụng các vật liệu không làm suy giảm môi trường;

– ngăn chặn tất cả các loại ô nhiễm gây ra bởi túi và nhựa khác

Mục đích ban hành Nghị định này nhằm thông tin cho người tiêu dùng, ghi nhãn; Phòng ngừa các hành vi gây hiểu lầm và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người; Bảo vệ sức khỏe động vật và sự sống và bảo vệ thực vật; Bảo vệ môi trường.

Ngày dự kiến thông qua: Đã được ban hành bởi Ngài Tổng thống nước Cộng hòa Burundi

Ngày dự kiến ​​có hiệu lực: Sẽ được xác định

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Georgia về sản phẩm xây dựng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GEO/105, ngày 28/11/2018, Georgia thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật về “Sản phẩm xây dựng” được phê chuẩn theo Nghị định của Chính phủ Georgia ngày 1 tháng 10 năm 2018 số 476 (20 trang, bằng tiếng Georgia).

Quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng đối với các sản phẩm: Xi măng (ICS: 91.100.10); Ống nhựa (ICS: 23.040.20); Cốt thép (ICS: 77.140.15; 77.140.60; 77.140,65; 77.020); Cáp (ICS: 29.060.20; 13.220.50)

Nội dung của quy chuẩn này xác định các thủ tục chính cho sản phẩm xây dựng sản xuất và nhập khẩu ở Georgia. Nghị định của Chính phủ hiện tại đã được xây dựng theo Quy định (EU) số 305/2011 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 9 tháng 3 năm 2011.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn sản phẩm xây dựng.

Ngày dự kiến thông qua: ngày 1 tháng 10 năm 2018.

Ngày dự kiến có hiệu lực: 15 tháng 1 năm 2019.

Thông báo của Georgia về sản phẩm xây dựng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GEO/106, ngày 28/11/2018, Georgia thông báo ban hành Nghị định của Chính phủ Georgia ngày 14 tháng 11 năm 2018 số 541 (10 trang bằng tiếng Georgia) để phê duyệt các thay đổi trong Quy chuẩn kỹ thuật về “Sản phẩm xây dựng”.

Quy chuẩn kỹ thuật về “Sản phẩm xây dựng” được phê chuẩn bởi Nghị định của Chính phủ Georgia ngày 01 tháng 10 năm 2018 số 466 (20 trang bằng tiếng Georgia) đã được thông báo qua thông báo số G/TBT/N/GEO/105 tại Georgia.

Quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng đối với các sản phẩm: Xi măng (ICS: 91.100.10); Ống nhựa (ICS: 23.040.20); Cốt thép (ICS: 77.140.15; 77.140.60; 77.140,65; 77.020); Cáp (ICS: 29.060.20; 13.220.50).

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm đảm bảo an toàn sản phẩm xây dựng.

Ngày dự kiến thông qua: 14 tháng 11 năm 2018.

Ngày dự kiến có hiệu lực: 15 tháng 1 năm 2019.

Thông báo của Grenada về sản phẩm thuốc lá

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GRD/20, ngày 23/11/2018, Grenada thông báo ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật về ghi nhãn các gói sản phẩm thuốc lá bán lẻ (41 trang, bằng tiếng Anh).

Tiêu chuẩn này là tiêu chuẩn khu vực sửa đổi (CARICOM) được thông qua và thay thế Tiêu chuẩn ký hiệu GDS 1: Phần 6: 1997. Tiêu chuẩn này áp dụng cho việc ghi nhãn các gói và thùng sản phẩm thuốc lá riêng lẻ để bán lẻ ở Grenada.

Tiêu chuẩn này quy định thông tin, phương pháp hiển thị thông tin đó, cách diễn đạt và trình bày các cảnh báo về sức khỏe được đưa vào nhãn của các gói bán lẻ các sản phẩm thuốc lá dự định bán ở Grenada.

Không phân biệt kích cỡ, Tiêu chuẩn này không áp dụng cho việc ghi nhãn cho các trường hợp của các gói hoặc thùng riêng lẻ không được trưng bày hoặc sử dụng tại điểm bán.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo tình trạng bắt buộc đã được đề xuất để ngăn chặn nhãn giả và để chống lại việc sử dụng thuốc lá và sức khỏe chung của người tiêu dùng.

Ngày dự kiến thông qua: tháng 5 năm 2019.

Ngày dự kiến có hiệu lực: tháng 5 năm 2019.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của I-xra-en về Bia

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/1027, ngày 31/10/2018, I-xra-en thông báo ban hành Tiêu chuẩn sửa đổi ký hiệu SI 407 – Bia, đồ uống có bia, đồ uống có bia và đồ uống mạch nha (12 trang, tiếng Do Thái)

Sửa đổi Tiêu chuẩn bắt buộc SI 407, liên quan đến bia và đồ uống mạch nha tương tự. Sự khác biệt chính giữa phiên bản cũ và tiêu chuẩn dự thảo sửa đổi mới này như sau:

  • Thay thế tất cả các đoạn mô tả chi tiết các chất phụ gia thực phẩm được phép bằng một tham chiếu đến Quy định Sức khỏe Cộng đồng (Thực phẩm) của Israel (Phụ gia Thực phẩm) 2001 (đoạn 2.1.2);
  • Thêm các yêu cầu mới cho kích thước chữ tối thiểu. Các yêu cầu này khác với các yêu cầu của Tiêu chuẩn SI 1145 liên quan đến ghi nhãn thực phẩm đóng gói sẵn;
  • Xóa các yêu cầu về độ trong của bia;
  • Xóa các yêu cầu đối với khối lượng khai báo của sản phẩm;
  • Thay đổi danh mục bia mạch nha thành đồ uống mạch nha và thêm các loại mới cho đồ uống với đồ uống có bia.

Cả tiêu chuẩn cũ và tiêu chuẩn sửa đổi mới này sẽ được áp dụng từ khi có hiệu lực của tiêu chuẩn mới trong thời gian 12 tháng. Trong thời gian này, sản phẩm có thể được kiểm tra theo tiêu chuẩn cũ hoặc mới sửa đổi.

Theo Luật Xác định bắt buộc có hiệu lực đối với các yêu cầu ghi nhãn đối với thực phẩm đóng gói sẵn (2014), các yêu cầu ghi nhãn mới này sẽ có hiệu lực sau 2 năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch xuất bản trên Công báo Israel. Trong thời gian này thực phẩm đóng gói sẵn có thể được ghi nhãn theo các yêu cầu ghi nhãn cũ hoặc mới.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm thông tin số liệu, ghi nhãn; Phòng ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của I-xra-en về mứt khô, thạch và mứt cam

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/1028, ngày 31/10/2018, I-xra-en thông báo ban hành Tiêu chuẩn sửa đổi ký hiệu SI 7296 – Mứt, mứt, thạch trái cây, chất bảo quản và Pididle (17 trang, tiếng Do Thái)

Mô tả nội dung: Sửa đổi Tiêu chuẩn bắt buộc SI 34, xử lý các loại mứt, mứt cam, thạch trái cây, chất bảo quản và Pididle, được thay thế bằng SI 7296. Bản sửa đổi tiêu chuẩn dự thảo này áp dụng Tiêu chuẩn Codex Alimentarius 296-2009 cho mứt, thạch và mứt cam, với một vài thay đổi xuất hiện trong phần tiếng Do Thái của tiêu chuẩn. Sự khác biệt chính giữa phiên bản cũ và tiêu chuẩn dự thảo sửa đổi mới này như sau:

  • Giảm hàm lượng trái cây cần thiết cho món ăn có thêm đường (đoạn 3);
  • Thêm một tham chiếu đến Quy định Sức khỏe Cộng đồng của Israel (Thực phẩm) (Phụ gia Thực phẩm) 2001 (đoạn 4);
  • Thêm một đoạn mới xử lý các chất gây ô nhiễm (đoạn 5);
  • Thêm một đoạn mới liên quan đến vệ sinh và thêm các yêu cầu vi sinh và phương pháp thử nghiệm mới (đoạn 6);
  • Xác định các phương pháp ghi nhãn cho hàm lượng trái cây và cho các loại nước ép trái cây cô đặc trong trái cây 100% thêm mứt (đoạn 8);
  • Thay đổi các phương pháp thử nghiệm (đoạn 9).

Theo Luật Xác định bắt buộc có hiệu lực đối với các yêu cầu ghi nhãn đối với thực phẩm đóng gói sẵn (2014), các yêu cầu ghi nhãn mới này sẽ có hiệu lực sau 2 năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch xuất bản trên Công báo Israel. Trong thời gian này thực phẩm đóng gói sẵn có thể được ghi nhãn theo các yêu cầu ghi nhãn cũ hoặc mới.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm thông tin tiêu dùng, ghi nhãn; Bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người

Ngày dự kiến ​​có hiệu lực: 1 năm sau khi xuất bản trên Công báo Israel, Phần Thông báo Chính phủ.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hàn Quốc về hóa chất tiêu dùng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/797, ngày 6/11/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành quy định về “Chỉ định Sản phẩm Hóa chất Tiêu dùng phải được Kiểm tra An toàn và Tiêu chuẩn Ghi nhãn và An toàn có liên quan” (128 trang, bằng tiếng Hàn). Quy định này áp dụng đối với sản phẩm hóa chất tiêu dùng phải được kiểm tra an toàn. Các sản phẩm này được chỉ định và công bố bởi Bộ trưởng Bộ Môi trường vì được công nhận rằng chúng có rủi ro dựa trên kết quả đánh giá rủi ro được thực hiện theo Đạo luật về An toàn Sản phẩm Hóa chất và Chất diệt khuẩn.

Nội dung chính của quy định gồm:

– Đây là quy tắc hành chính để thực thi Đạo luật về An toàn Sản phẩm Hóa chất và Chất diệt khuẩn từ ngày 1 tháng 1 năm 2019 khi Đạo luật được ban hành vào tháng 3 năm 2018.

– Quy định về các sản phẩm liên quan đến rủi ro hiện hành theo Đạo luật Đăng ký và Đánh giá, v.v. của các Chất hóa học, bao gồm 23 loại sản phẩm (ví dụ như chất tẩy rửa), được chuyển sang Đạo luật về An toàn Sản phẩm Hóa chất và Chất diệt khuẩn, và các sản phẩm này được quản lý như sản phẩm hóa chất tiêu dùng phải kiểm tra an toàn.

– Các sản phẩm hóa chất tiêu dùng được kiểm tra an toàn phải tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn và ghi nhãn của chúng tương tự với các tiêu chuẩn hiện hành.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng bằng cách chỉ định các sản phẩm hóa chất tiêu dùng cần phòng ngừa rủi ro như các sản phẩm hóa chất tiêu dùng phải kiểm tra an toàn và thiết lập tiêu chuẩn an toàn và ghi nhãn của họ để quản lý an toàn, nhằm ngăn chặn mọi sự cố như trường hợp khử trùng máy tạo độ ẩm.

Ngày dự kiến thông qua: ngày 1 tháng 1 năm 2019

Ngày dự kiến ​​có hiệu lực: ngày 1 tháng 1 năm 2019

Thông báo của Hàn Quốc về sản phẩm diệt khuẩn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/800, ngày 6/11/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Luật về Thùng đựng và Bao bì An toàn cho Sản phẩm diệt khuẩn (4 trang, bằng tiếng Hàn).

Tên của luật:

“Quy định về Thùng đựng và Bao bì an toàn cho các sản phẩm diệt khuẩn”

Nội dung chính:

– Tiêu chuẩn chung về hình dạng, độ bền và khả năng chống rò rỉ của thùng đựng và bao bì an toàn của sản phẩm diệt khuẩn;

– Sản phẩm diệt khuẩn yêu cầu bao bì chống trẻ em, Những sản phẩm không yêu cầu bao bì chống trẻ em, Tiêu chuẩn an toàn có liên quan.

Mục đích ban hành luật này nhằm ngăn ngừa tai nạn hóa chất do xử lý hoặc sử dụng các sản phẩm diệt khuẩn.

Ngày dự kiến thông qua: ngày 1 tháng 1 năm 2019.

Ngày dự kiến có hiệu lực: ngày 1 tháng 1 năm 2019.

Thông báo của Hàn Quốc về ghi nhãn sản phẩm diệt khuẩn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/801, ngày 6/11/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Luật quy định ghi nhãn Sản phẩm diệt khuẩn (14 trang, bằng tiếng Hàn).

Tên của luật:

“Quy định về ghi nhãn sản phẩm diệt khuẩn”

Nội dung chính:

Những gì và làm thế nào nên được ghi nhãn trên các sản phẩm diệt khuẩn.

– Thông tin bao gồm trong nhãn, vị trí và kích thước văn bản của nhãn, phương pháp ghi nhãn cho từng thông tin

– Phương pháp tạo số phê duyệt các sản phẩm diệt khuẩn.

Mục đích ban hành quy định này nhằm cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về các sản phẩm diệt khuẩn và ngăn ngừa tai nạn hóa chất.

Ngày dự kiến thông qua: ngày 1 tháng 1 năm 2019.

Ngày dự kiến có hiệu lực: ngày 1 tháng 1 năm 2019.

Thông báo của Hàn Quốc về sản phẩm tiêu dùng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/802, ngày 22/11/2018, Hàn Quốc thông báo ban hành Dự thảo sửa đổi Đạo luật về thiết bị điện và sản phẩm tiêu dùng (6 trang, bằng tiếng Hàn).

Các sản phẩm nhựa sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn đối với Sản phẩm tiêu dùng.

Việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn đối với Sản phẩm tiêu dùng gồm: Các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu xác nhận các sản phẩm tiêu dùng tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn. Đó là tự xác nhận mà không đánh dấu xác nhận an toàn.

Mục đích sửa đổi nhằm đáp ứng Điều 2 và Điều 28 của Đạo luật kiểm soát an toàn sản phẩm điện và thiết bị tiêu dùng.

Ngày dự kiến thông qua: Tháng 3 năm 2019 trở lên

Ngày dự kiến có hiệu lực: Tháng 3 năm 2019 hoặc muộn hơn

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Sri Lanka về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/LKA/38, ngày 31/10/2018, Sri Lanka thông báo ban hành Dự thảo quy định về thực phẩm (mã màu cho đường, muối và chất béo) Quy định 2018 (8 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo quy định này về thực phẩm (mã màu cho đường, muối và chất béo) đặt ra một số yêu cầu.

Bất kỳ thực phẩm rắn, bán rắn hoặc lỏng có trong một gói hoặc hộp chứa phải được dán nhãn theo quy định này nếu không, sẽ không có bất kỳ ai được phép bán, cung cấp để bán, giữ để bán, phân phối hoặc quảng cáo.

Nếu bất kỳ thực phẩm rắn hoặc bán rắn hoặc lỏng có chứa lượng đường hoặc muối hoặc chất béo vượt quá mức đường hoặc muối hoặc chất béo trong quy định, sẽ được dán nhãn theo cách thức quy định trong quy định này.

Logo đó phải tuân thủ những điều sau đây

  • Đường kính không nhỏ hơn 2cm
  • Màu đỏ với tông màu, đỏ 230
  • Hiển thị với nền trắng
  • Hiển thị bên trong logo bằng các ngôn ngữ Sinhala, Tamil và tiếng Anh tương ứng màu trắng đậm và có kích thước phông chữ tối thiểu là 2 mm
  • Mô tả số lượng hàm lượng muối hoặc đường hoặc chất béo trong thực phẩm đó có trong logo và logo phải có kích thước phông chữ tối thiểu 1,5mm đậm màu trắng
  • Nếu bất kỳ thực phẩm rắn, bán rắn hoặc lỏng nào đủ điều kiện có nhiều hơn một logo, các logo tương ứng sẽ được hiển thị gần nhau trong bảng điều khiển chính của hộp hoặc gói. Tuy nhiên, các logo liên quan chiếm hơn 25% diện tích bề mặt của bảng điều khiển chính của hộp đựng hoặc gói thực phẩm đó, các logo đó sẽ được hiển thị trong gói phân phối.
    Các quy định của các quy định này sẽ không áp dụng cho bất kỳ sản phẩm nông nghiệp chính nào.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin, ghi nhãn; bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Malaysia về thực phẩm bổ sung

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/MYS/82, ngày 27/11/2018, Malaysia thông báo ban hành Dự thảo Sửa đổi Quy chế Thực phẩm 1985 bằng cách bổ sung một quy định mới: Thực phẩm bổ sung. (2 trang, bằng tiếng Anh)

Quy định mới quy định các yêu cầu tiêu chuẩn và ghi nhãn cho thực phẩm bổ sung. Thực phẩm bổ sung là một sản phẩm đóng gói sẵn được thể hiện dưới dạng thực phẩm để thực hiện vai trò sinh lý ngoài việc cung cấp một yêu cầu dinh dưỡng đơn giản.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người và an toàn và thông tin người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Malaysia về thực phẩm hữu cơ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/MYS/83, ngày 27/11/2018, Malaysia thông báo ban hành Dự thảo Sửa đổi Sửa đổi tiểu mục 18 (7) của Quy chế thực phẩm 1985. (1 trang, bằng tiếng Anh).

Sửa đổi đề xuất là mở rộng các yêu cầu sử dụng các từ “hữu cơ”, “sinh học”, “sinh thái”, “sinh học” hoặc bất kỳ từ nào có cùng tầm quan trọng đối với sản phẩm thực phẩm không phải là thực phẩm được sản xuất hữu cơ từ thực vật trong khi ghi nhãn của bất kỳ thực phẩm nào để đáp ứng các yêu cầu khác được thiết lập bởi các cơ quan hoặc tổ chức có liên quan được công nhận bởi Cục chất lượng và an toàn thực phẩm, Bộ Y tế Malaysia.

Mục đích ban hành quy định này nhằm phòng ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Thái Lan về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/THA/523, ngày 31/10/2018, Thái Lan thông báo ban hành dự thảo Quy định của Bộ Y tế Thái Lan (MOPH), B.E …, có tên “Enzyme cho chế biến thực phẩm” (35 trang, bằng tiếng Thái)

Mô tả nội dung: Ngày nay, các enzyme cho chế biến thực phẩm được quy định trong Thông báo MOPH (số 281) B.E. 2547 (2004) Re: Phụ gia thực phẩm. Enzyme, ngoài các chất được phê chuẩn bởi Tiêu chuẩn chung của Codex cho Phụ gia thực phẩm, đã yêu cầu đánh giá an toàn trước khi cho phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm. Do sự khác biệt giữa các yêu cầu cung cấp thông tin về Enzyme và các phụ gia thực phẩm khác, cho nên Bộ Y tế Thái Lan đề xuất đưa ra một Quy định chung về Enzyme trong việc chế biến thực phẩm. Quy định này đặt ra các quy tắc cho các enzyme được sử dụng trong chế biến thực phẩm cả làm phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến. Tuy nhiên, phạm vi của quy định này không bao gồm enzyme cho mục đích dinh dưỡng, enzyme được sản xuất bởi nuôi cấy vi khuẩn truyền thống trong quá trình lên men và enzyme được sử dụng riêng trong sản xuất chất hỗ trợ chế biến phụ gia thực phẩm.

Enzyme cho chế biến thực phẩm nên có đủ điều kiện như sau:

Hoạt động của enzyme là hơn 85% hoạt động của enzyme được thông báo. Không có vi khuẩn kỹ thuật di truyền trong 1g (đối với enzyme có nguồn gốc từ vi khuẩn kỹ thuật di truyền). Chất lượng và an toàn theo các điều kiện sau:

3.1 Tuân thủ Thông số kỹ thuật tư vấn Codex về nhận dạng và độ tinh khiết của phụ gia thực phẩm

3.2 Tuân thủ các đặc điểm kỹ thuật chung và cân nhắc cho các chế phẩm enzyme được sử dụng trong chế biến thực phẩm như sau;

– Salmonella spp.: Không có trong mẫu 25g

– Tổng coliform: Không quá 30 MPN/g

– Escherichia coli: Vắng mặt trong mẫu 25g

– Chì: không quá 5 mg/kg

– Hoạt tính kháng sinh: Không có trong các chế phẩm từ các nguồn vi sinh vật.

3.3 Tuân thủ thông báo của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (Thái Lan).
Dự thảo thông báo có chứa;

– Danh sách các enzyme để chế biến thực phẩm thể hiện trong Phụ lục I.

– Thông tin cần thiết để phê duyệt việc sử dụng enzyme thực phẩm mới được cung cấp trong Phụ lục II. Enzyme thực phẩm không được liệt kê trong Phụ lục I hoặc không được JECFA đánh giá phải trải qua đánh giá an toàn khoa học toàn diện bởi các chuyên gia đánh giá rủi ro ở Thái Lan.

– Yêu cầu ứng dụng để chứng minh nhu cầu và hiệu quả công nghệ trong Phụ lục III về việc sử dụng enzyme thực phẩm không thuộc phạm vi sử dụng chức năng của nó được nêu trong Phụ lục I.

– Danh sách các chất phụ gia thực phẩm được phê duyệt để sử dụng trong enzyme thực phẩm và các điều kiện của chúng được liệt kê trong Phụ lục IV.

– Enzyme cho phương pháp phân tích chế biến thực phẩm được cung cấp trong Phụ lục V tuân thủ “Kết hợp tóm tắt các thông số kỹ thuật phụ gia thực phẩm: Phương pháp phân tích, quy trình thử nghiệm và giải pháp phòng thí nghiệm được sử dụng và tham chiếu trong thông số kỹ thuật phụ gia thực phẩm”.

– Yêu cầu ghi nhãn đối với enzyme thực phẩm được nêu trong Thông báo MOPH Re: Phụ gia thực phẩm. Tất cả các sản phẩm thực phẩm sử dụng enzyme làm phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến không có trong danh sách trước khi thực thi thông báo này phải cung cấp thông tin để đánh giá an toàn và nhu cầu công nghệ trong vòng hai năm kể từ ngày thông báo này có hiệu lực.

-Thông báo này sẽ có hiệu lực vào ngày sau khi được thông báo trên Công báo Hoàng gia.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Đài Loan về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/341, ngày 08/11/2018, Đài Loan thông báo ban hành Dự thảo sửa đổi các quy định quản lý việc đánh giá, đăng ký và cấp phép thực phẩm và các sản phẩm liên quan (Thông báo công cộng Thực phẩm số 1071302691 do Bộ Y tế và Phúc lợi ban hành) (20 trang), bằng tiếng Anh, 15 trang bằng tiếng Trung Quốc)

Tên của quy định đã được thay đổi thành “Quy định quản lý việc đánh giá, đăng ký và cấp giấy phép cho thực phẩm và các sản phẩm liên quan”. Các nội dung chính khác của dự thảo sửa đổi là sửa đổi các điều khoản liên quan hoặc sửa đổi văn bản và các quy định bổ sung để đăng ký công thức cho trẻ sơ sinh và công thức ăn dặm và công thức cho một số bệnh.

Mục đích sửa đổi nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; bảo vệ người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo

Thông báo của Uruguay

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/URY/25, ngày 15/11/2018, Uruguay thông báo ban hành Thông điệp và dự thảo luật về ghi nhãn thực phẩm đóng gói (11 trang, tiếng Tây Ban Nha). Quy định này áp dụng đối với thực phẩm ăn liền, đóng gói trong trường hợp không có mặt khách hàng, có sẵn trong lãnh thổ quốc gia.

Thực phẩm ăn liền đóng gói sẵn trong trường hợp không có mặt khách hàng phải có nhãn gắn ở mặt trước bao bì nếu natri, đường, chất béo hoặc chất béo bão hòa đã được thêm vào trong quá trình chuẩn bị.

Mục đích ban hành luật này nhằm đối phó với tình hình rắc rối ở Uruguay liên quan đến béo phì.

Hạn góp ý cuối cùng: 3 tháng kể từ ngày thông báo

 (Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

 

THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Quy định về quản lý an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của Bộ Công thương

*******

Ngày 15/11/2018, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 43/2018/TT-BCT quy định về quản lý an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của Bộ Công thương. Thông tư này quy định các nội dung cụ thể như sau:

  1. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
  2. Cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu.
  3. Chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng.
  4. Thu hồi và xử lý sau thu hồi đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thực phẩm tại Việt Nam; cơ quan quản lý nhà nước; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Bộ Công Thương.

 Cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu, Thông tư quy định rõ: Tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp trên lãnh thổ Việt Nam được đánh giá đáp ứng đủ năng lực về điều kiện hoạt động kinh doanh dịch vụ chứng nhận hoặc giám định theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ sẽ được Bộ Công Thương xem xét giao hoặc chỉ định là Cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

Bãi bỏ các Thông tư: Thông tư số 58/2014/TT-BCT ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương; Chương II, chương IV, chương V Thông tư số 40/2013/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định điều kiện, trình tự thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng về an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; Thông tư số 28/2013/TT-BCT ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm với thực phẩm nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và một số quy định về kiểm tra chuyên ngành

*******

Ngày 09/11/2018, Thủ tướng chính phủ ký ban hành Nghị định số 154/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và một số quy định về kiểm tra chuyên ngành.

Các nội dung sửa đổi bao gồm:

– Sửa đổi khoản 2 Điều 42 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ).

– Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp.

– Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ)

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành.

Quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

*******

Ngày 04/12/2018, Thủ tướng chính phủ ký ban hành Nghị định số 1163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp theo hình thức riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Nghị định này không điều chỉnh việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng theo quy định của Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn.

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là doanh nghiệp phát hành trái phiếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2019. Nghị định này thay thế Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Về Điều khoản chuyển tiếp:

  1. Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo điều kiện, điều khoản của phương án phát hành trái phiếu đã được phê duyệt và công bố cho nhà đầu tư.
  2. Kể từ khi Nghị định này có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo quy định tại Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin và gửi nội dung công bố thông tin cho Sở Giao dịch chứng khoán theo quy định tại Điều 24, Điều 25 và Điều 26 Nghị định này. Thực hiện lưu ký trái phiếu theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

(Nguyễn Thị Thắng)

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Một số thông tin về thị trường rau quả Latvia

********

Nhằm giúp các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu rau quả ra thị trường nước ngoài, Phòng TBT Bắc Giang giới thiệu một số thông tin hữu ích về thị trường rau quả Latvia để tham khảo.

  1. Tổng quan về thị trường:

Nằm ở phía bắc bán cầu với đặc điểm khí hậu lạnh khô, băng tuyết kéo dài về mùa đông từ cuối tháng 11 cho đến cuối tháng 3 năm sau, điều kiện thổ nhưỡng của Latvia  chỉ phù hợp với trồng rừng, lấy gỗ, ngành nông nghiệp và chăn nuôi nhìn chung ít phát triển so với các  quốc gia Châu Âu khác. Latvia  nói riêng và khu vực Bắc Âu nói chung là thị trường nhập khẩu, tiêu  thụ mặt hàng hoa quả, rau tươi từ các quốc gia xuất khẩu trên thế giới. Những nước có kim ngạch xuất khẩu hoa quả  và rau vào thị trường Latvia phải kế đến là  Tây Ban Nha,  Lithuania, Ba Lan, Hà Lan, Italia, Bỉ và các nước khu vực Châu Á ( xoài, vải…)

  1. Quy mô thị trường, kim ngạch XNK với Việt Nam và một số thị trường khác:

Với mức thu nhập của người tiêu dùng của người Latvia  ngày càng tăng, việc chi tiêu cho các sản phẩm rau,  củ quả tại thị trường Latvia  đang có xu hướng tăng trong những  năm gần đây với tốc độ khoảng 6%. Đặc biệt đối với sản phẩm rau củ quả được trồng và chế biến dưới mác Eco, bởi người tiêu dùng giờ đây không những quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn quan tâm đến yếu tố tác động đến sức khỏe và môi trường của sản phẩm.

Trung bình hàng năm, người tiêu dùng Latvia tiêu thụ khoảng 60 kg rau củ quả và 70 kg hoa quả các loại.

Theo thống kê của Latvia, năm 2017 nước này nhập khẩu tổng số hơn 169 triệu Euro  các loại hoa quả, rau các loại từ các nước thuộc khu vực Châu Âu, riêng đối với Châu  Á, hiện Latvia nhập khẩu rau quả chính từ Trung Quốc.

  1. Kênh nhập khẩu, phân phối:

Tại Lavia có 2 hình thức nhập khẩu rau hoa quả phổ biến là: nhập khẩu để bán lẻ tại các siêu thị và nhập khẩu bán buôn cho các nhà hàng, doanh nghiệp chế biến thực phẩm. Dưới đây là danh sách một số nhà nhập khẩu tại thị trường Latvia:

TT Công ty Địa chỉ Điện thoại/Fax Email/Web Liên hệ
1 Voldemars sia Skaistkalnes iela

Riga, Rigas

Tel: 371 6 7808285

Fax:371 6 7808280

 

www.valdo.lv Mr.

Konstantin

Pleshakov

2 Maxima

Group

Savanorių pr. 247,

LT-02300,

Vilnius, Lithuania

 

Tel:(+370 5) 219

6000

Fax (+370 5) 219

6001

www.maximagr

upe.eu/en/

 

 
3 Rimi Augusta Deglava

iela 161

Tel: 371 8 000 0180 www.rimi.lv  

Nguồn: www.exportlatvia.com

  1. Chính sách quản lý nhập khẩu và các rào cản kỹ thuật liên quan:
  2. Thuế nhập khẩu:

Là thành viên đầy  đủ của EU, cũng là thành viên của liên minh thuế quan EU, Latvia thực thi đầy đủ nghĩa vụ thuế quan và các rào cản thương mại như các thành viên khác của liên minh.

Việc nhập khẩu rau quả vào Latvia chịu sự điều chỉnh bởi luật, quy định, tiêu chuẩn của Latvia và EU. Hải quan Latvia là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện các quy trình, thủ tục thông quan cho hàng hóa nhập khẩu vào Latvia, thu các loại thuế và phí nhập khẩu của hàng hóa từ nước ngoài vào. Hóa đơn thương mại, Bảo hiểm hàng hóa, Danh mục hàng hóa, Tờ khai trị giá hải quan, Chứng nhận kiểm dịch và vận đơn đường biển (đường hàng không) là những chứng từ không thể thiếu khi làm thủ tục nhập khẩu.

Để được hưởng ưu đãi thuế theo quy chế GSP, thì C/O từ nước được hưởng GSP phải được phát hành và hoàn  tất theo đúng quy định về Chứng nhận xuất xứ được áp dụng bởi quy chế GSP Latvia. Theo đó mẫu chứng nhận xuất xứ thông thường được Hải quan Latvia  chấp nhận là mẫu C/O Form A.

Để xem chi tiết từng dòng thuế cho từng loại sản phẩm hoa quả nên sử dụng mã số  hải quan để truy cập và tra cứu dòng thuế thông qua hệ thống HS (Harmonised System). Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại : www.vid.gov.lv/en.

Là thành viên của EU, Latvia hiện áp dụng mức thuế nhập khẩu theo quy định chung của EU tại Quy định 2015/1754, có hiệu lực chung đối với tất cả các quốc gia thành viên EU. Theo đó: Mã 07 có dải thuế từ 0%-  15,2%. Mã 08 có dải thuế từ 0%-20,8%, phụ thuộc vào từng loại mặt hàng có nằm trong danh mục được hưởng ưu đãi thuế quan GSP hay không.

Mặt hàng chính của Việt Nam xuất khẩu vào Latvia là các sản phẩm nhiệt đới nên hầu hết các loại rau quả đều được hưởng ưu đãi thuế GSP. Ví dụ: Dừa tươi hoặc sấy khô (mã HS: 08011100) hiện đang được hưởng thuế suất là 0%. Các loại rau quả thuộc mã 07, 08 khác thì tùy giai đoạn, tùy từng chủng loại mà EU quy định sẽ được hưởng mức ưu đãi thuế quan khác nhau. Cà rốt tươi hoặc đông lạnh (Mã HS: 07061000), thuế suất nhập khẩu thông thường vào EU là 13,6%, tuy nhiên trong khoảng thời gian từ 01/01/2018 đến 31/12/2018 mức thuế suất trong hạn ngạch cho phép giảm xuống 7% cho tất cả các lô hàng. Trong khi đó mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi GSP là 10,10%.

Tra cứu chính xác và chi tiết chủng loại hàng hóa cụ thể tại một thời điểm cụ thể tại đường link: http://trade.ec.europa.eu/tradehelp/

  1. Các tiêu chuẩn và yêu cầu về bao bì, đóng gói:

Bất cứ doanh nghiệp nào kinh doanh  mặt hàng thực phẩm đều phải có trách nhiệm đảm bảo độ an toàn của sản phẩm đối với sức khỏe người tiêu dùng. Điều này có nghĩa là sản phẩm đó không được gây hại người  tiêu dùng. Điều này áp dụng cả bản thân sản phẩm đó lẫn bao bì đóng gói sản phẩm đó. Một ví dụ điển hình cho việc này là nếu sản phẩm có chứa chất dị ứng đối với cơ thể con người thì nó phải được thể hiện trên bao bì của sản phẩm. Các doanh nghiệp muốn nhập khẩu và kinh doanh thực phẩm tại Latvia  phải đăng ký với cơ quan kiểm tra chất lượng. Thường là cơ quan an toàn môi trường của địa phương đó. Bất kể là doanh nghiệp  có cần phải đăng ký kinh doanh hàng thực phẩm hay không nhưng đều phải có trách nhiệm đối  với sự an toàn của người tiêu dùng.

Quy định về bao bì, đóng gói là nhằm tạo điều kiện cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn những sản phẩm an toàn và phù hợp với mình nhất. Quy định 1169/2011 của EU, áp dụng từ ngày 13/12/2014, theo đó những thông tin chung sau là bắt buộc phải có trên bao bì, đóng gói (bằng tiếng Latvia):

–  Tên chính xác của sản phẩm

–  Thành phần cấu tạo theo danh sách các thành phần (từ cao đến thấp hoặc thành phần

chính theo trọng lượng)

–  Thành phần dị ứng: phải được nhấn mạnh trong danh sách các thành phần

–  Thời hạn sử dụng của sản phẩm và các thông tin bảo quản khác.

–  Trọng lượng tịnh

–  Tên và thông tin liên lạc chi tiết của đơn vị kinh doanh thực phẩm

–  Nước xuất xứ của sản phẩm

–  Hướng dẫn cách chế biến (nếu cần)

–  Nồng độ cồn nếu vượt quá 1,2%

–  Công bố về hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với các quy định chuyên ngành (từ ngày 14/12/2016)

Ngoài ra, việc thực hiện các quy định về bao bì và đóng gói phải tuân thủ theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Latvia (Consumer Right Protection Law-CRPL), theo đó tại Mục 20 có quy định chung đối với bao bì và đóng gói như sau:

–  Thông tin in trên bao bì sản phẩm phải rõ ràng và đầy đủ, phản ánh chi tiết tác dụng cũng như tác hại của sản phẩm.

–  Mực in trên bao bì sản phẩm không tẩy xóa được.

  1. Vệ sinh an toàn thực phẩm:

Theo quy định của EU (Regulation 178/2002), bên cạnh các quy định về kiểm tra nguy cơ gây hại (plant pests) và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, an toàn cho sức khỏe cộng đồng,  hàng thực phẩm muốn vào thị trường này phải đáp ứng được 5 nguyên tắc sau:

–  Độ an toàn: Sản phẩm đó có hại cho sức khỏe con người không? Có phù hợp cho con người tiêu dùng hay không? Cụ thể là phải tuân theo luật thực phẩm của EU.

–  Trách nhiệm: Những người kinh doanh ngành hàng thực phẩm trong đó có trách nhiệm đảm bảo sản phẩm mà mình kinh doanh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của EU mọi lúc, nếu không sản phẩm đó sẽ bị thu hồi.

–  Truy xuất nguồn gốc: Là khả năng truy tìm nguồn gốc sản phẩm thông qua các chuỗi quy trình từ nuôi trồng, sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm. Điều này đòi hỏi những nhà xuất khẩu gạo cần chuẩn bị ghi chú, báo cáo toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm nhằm cung cấp cho các nhà nhập khẩu EU khi họ yêu cầu.

-Quy tắc phòng ngừa: Cục an toàn vệ sinh thực phẩm EU (EFSA) là cơ quan chuyên môn, tư vấn khoa học cho EU trong việc thực thi chính sách liên quan đến rủi ro mà thực phẩm đem lại.

Trong trường hợp mà một sản phẩm thực phẩm nào đó bị EFSA liệt vào dạng “rủi ro tiềm tàng” thì ngay lập tức EU sẽ hành động mà không cần phải có chứng cứ khoa học rõ ràng. Với quy tắc này thì rõ ràng những nhà xuất khẩu thực phẩm sẽ không thể nào chắc chắn rằng sản phẩm của mình luôn luôn có mặt tại thị trường EU. Latvia áp dụng hệ thống cảnh báo nhanh về an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi (EU’s rapid alert system for food & feed/RASFF) để thông báo nhanh các trường hợp rủi ro trong phạm vi toàn EU.

–  Giao diện sản phẩm: Để đảm bảo người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về sản phẩm, quy định về bao bì, đóng gói phải được đảm bảo.

Hầu hết các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật được nhập khẩu vào Latvia từ những nước nằm ngoài EU đều không phải kiểm tra tại cửa khẩu. Giám sát viên của cơ quan thực phẩm quốc gia Latvia sẽ thực hiện giám sát quá trình nhập khẩu và cảnh báo sớm sẽ được đưa ra thông qua hệ thống ’mã vạch’ trên website. Ví dụ như nếu tồn dư thuốc bảo vệ thực vật của một lô hàng vượt quá mức giới hạn được phép bị phát hiện trước đó sẽ không được phép lưu thông tại thị trường Latvia nếu không có sự chấp thuận của Cơ quan thực phẩm quốc gia. Những lô hàng thuộc dạng này sẽ được liệt kê vào danh sách ’đen’ và Cơ quan thực phẩm quốc gia sẽ phải đưa ra cảnh báo trước khi chúng được bán ra thị trường.

 (Lê Thành Kông)

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Phân công quản lý nhà nước về hoạt động mã số, mã vạch được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo điều 19a, Nghị định Số 74/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/05/2018, quy định cụ thể như sau:

  1. Bộ Khoa học và Công nghệ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về mã số, mã vạch và các công nghệ dựa trên nền tảng mã số, mã vạch, có nhiệm vụ, quyền hạn:
  2. a) Xây dựng chiến lược, chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn, quy chuẩn và các văn bản quy phạm pháp luật về mã số, mã vạch;
  3. b) Hướng dẫn các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức, cá nhân liên quan triển khai áp dụng mã số, mã vạch.
  4. Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là cơ quan thường trực giúp Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhà nước về mã số, mã vạch, có nhiệm vụ, quyền hạn:
  5. a) Hướng dẫn áp dụng mã số, mã vạch, tổ chức phổ biến, triển khai áp dụng mã số, mã vạch theo tiêu chuẩn của Tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1;
  6. b) Cấp và quản lý các loại mã số, mã vạch của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1; quản lý và triển khai các dịch vụ do tổ chức mã số mã vạch quốc tế GS1 ủy quyền; khai thác tài nguyên và cơ sở dữ liệu mã số, mã vạch quốc gia;
  7. c) Đại diện của Việt Nam tại tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1 và thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về mã số, mã vạch;
  8. d) Thu, quản lý và sử dụng phí mã số, mã vạch theo quy định của pháp luật;

đ) Nghiên cứu phát triển ứng dụng, cung cấp các dịch vụ và giải pháp về mã số, mã vạch và các công nghệ khác liên quan;

  1. e) Chủ trì thanh tra, kiểm tra, xử lý, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về mã số, mã vạch.
  2. Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai ứng dụng mã số, mã vạch trong phạm vi, lĩnh vực được phân công quản lý.
  3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan xây dựng quy định và hướng dẫn về thu, quản lý và sử dụng phí và lệ phí về mã số, mã vạch.

Hỏi: Trách nhiệm của tổ chức sử dụng mã số, mã vạch được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Theo điều 19b, Nghị định Số 74/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/05/2018, quy định cụ thể như sau:

  1. Đối với tổ chức sử dụng mã số, mã vạch theo chuẩn của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1 và có tiền tố mã quốc gia Việt Nam “893”:
  2. a) Đăng ký sử dụng mã số, mã vạch với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
  3. b) Tạo và gắn mã số, mã vạch cho các đối tượng thuộc quyền sở hữu của tổ chức theo quy định;
  4. c) Khai báo, cập nhật và cung cấp thông tin liên quan về tổ chức và các đối tượng sử dụng mã số, mã vạch với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan trong chuỗi cung ứng;
  5. d) Chịu trách nhiệm về tính đơn nhất của mã số, mã vạch khi sử dụng và không buôn bán sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng mã số, mã vạch theo quy định của pháp luật;

đ) Không bán, chuyển nhượng quyền sử dụng mã số, mã vạch cho tổ chức khác;

  1. e) Trường hợp ủy quyền cho đối tác liên doanh hoặc gia công, chế biến sử dụng mã số, mã vạch phải có văn bản ủy quyền;
  2. g) Nộp phí cấp và phí duy trì quyền sử dụng mã số, mã vạch theo quy định;
  3. h) Thực hiện đăng ký cấp mới hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số, mã vạch;
  4. i) Thông báo bằng văn bản và nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số, mã vạch cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi tổ chức không có nhu cầu sử dụng mã số, mã vạch hoặc chấm dứt hoạt động.
  5. Đối với tổ chức hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam sử dụng mã nước ngoài theo chuẩn của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1:
  6. a) Phải được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc được chủ sở hữu của mã nước ngoài ủy quyền sử dụng;
  7. b) Trường hợp được chủ sở hữu mã nước ngoài ủy quyền sử dụng, tổ chức phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được xác nhận việc sử dụng mã nước ngoài.
  8. Đối với tổ chức sử dụng mã số, mã vạch không theo chuẩn của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1:
  9. a) Tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về loại mã số, mã vạch đang sử dụng;
  10. b) Khi đưa các đối tượng sử dụng mã số, mã vạch ra thị trường hoặc ngoài phạm vi của tổ chức, tổ chức phải đảm bảo các mã số, mã vạch đã sử dụng không được trùng lắp hoặc gây nguy cơ nhầm lẫn với các loại mã số, mã vạch theo chuẩn của Tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1; có biện pháp cảnh báo, chỉ dẫn phân biệt đi kèm hoặc loại bỏ mã số, mã vạch đó trước khi đưa ra thị trường.
  11. Đối với tổ chức phân phối, lưu thông và buôn bán sản phẩm, hàng hóa:
  12. a) Kiểm tra, kiểm soát chất lượng và tính hợp pháp của mã số, mã vạch trên hàng hóa trước khi đưa vào lưu thông;
  13. b) Không phân phối, lưu thông và buôn bán sản phẩm, hàng hóa hoặc đối tượng có sử dụng mã số, mã vạch không đúng quy định.
  14. Đối với tổ chức, cá nhân phát triển và cung cấp các dịch vụ, giải pháp, ứng dụng dựa trên nền tảng mã số, mã vạch:
  15. a) Bảo đảm sử dụng nguồn dữ liệu về đối tượng sử dụng mã số, mã vạch đúng, phù hợp với nguồn dữ liệu mã số, mã vạch của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1;
  16. b) Không công bố thông tin sai lệch về chủ sở hữu mã số, mã vạch hoặc đối tượng sử dụng mã số, mã vạch đã tuân thủ quy định;
  17. c) Trường hợp khai thác hoặc sử dụng nguồn dữ liệu mã số, mã vạch quốc gia, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trả chi phí sử dụng.
  18. Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch quy định tại Điều này.

Hỏi: Doanh nghiệp chúng tôi muốn đăng ký sử dụng mã số, mã vạch cho sản phẩm thì cần phải thực hiện những thủ tục gì?

Trả lời: Theo điều 19c, Nghị định Số 74/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/05/2018, quy định cụ thể thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số, mã vạch như sau:

  1. Hồ sơ:
  2. a) Trường hợp cấp mới Giấy chứng nhận, hồ sơ gồm:

– Đơn đăng ký sử dụng mã số, mã vạch theo quy định tại Mẫu số 12 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;

– Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc Quyết định thành lập.

  1. b) Trường hợp cấp lại Giấy chứng nhận, hồ sơ gồm:

– Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo quy định tại Mẫu số 13 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;

– Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc Quyết định thành lập đối với trường hợp thay đổi tên, địa chỉ;

– Bản chính Giấy chứng nhận (trừ trường hợp bị mất).

  1. Hình thức nộp hồ sơ:

Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thực hiện thủ tục mã số, mã vạch, lập 01 bộ hồ sơ tương ứng theo quy định tại Khoản 1 Điều này, nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện tới cơ quan thường trực về mã số, mã vạch. Trường hợp nộp trực tiếp thì phải có bản chính để đối chiếu. Trường hợp hồ sơ gửi qua bưu điện phải nộp bản sao được chứng thực hoặc bản sao y bản chính có ký tên, đóng dấu.

  1. Trình tự giải quyết thủ tục:
  2. a) Trường hợp cấp mới:

Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan thường trực về mã số, mã vạch thông báo cho tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ để sửa đổi, bổ sung;

Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ và tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đóng các khoản phí theo quy định, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan thường trực về mã số, mã vạch có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Mẫu số 14 Phụ lục kèm theo Nghị định này;

Thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận không quá 03 năm kể từ ngày cấp.

  1. b) Trường hợp cấp lại giấy chứng nhận:

Giấy chứng nhận được cấp lại áp dụng đối với trường hợp tổ chức, cá nhân có giấy chứng nhận còn hiệu lực nhưng bị mất, hư hỏng hoặc thay đổi tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân;

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan thường trực về mã số, mã vạch chịu trách nhiệm cấp lại giấy chứng nhận cho tổ chức, cá nhân. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, cơ quan thường trực về mã số, mã vạch thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do;

Thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận ghi theo thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận đã được cấp.

 (Nguyễn Thị Thắng)

Facebook Comments