Bản tin TBT Tháng 10/2021

Người viết: admin - Ngày viết: Monday, Oct 25, 2021 | 8:33 - Lượt xem: 183

I. TIN CẢNH BÁO

* Lĩnh vực thực phẩm

Thông báo của Liên minh châu Âu về thực phẩm hữu cơ  

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/834  ngày 07/9/2021, Liên minh châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy chế thực hiện của Ủy ban đưa ra các quy tắc chi tiết về hồ sơ và khai báo nhất định được yêu cầu từ người vận hành, nhóm người vận hành và về phương tiện kỹ thuật để cấp chứng chỉ phù hợp với Quy định (EU) 2018/848 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng (5 (các) trang, bằng tiếng Anh). Quy chế này áp dụng đối với sản phẩm hữu cơ và thực phẩm nói chung.

Dự thảo Quy chế thực hiện này của Ủy ban cung cấp các quy định chi tiết về việc cấp giấy chứng nhận dưới dạng điện tử, đối với một số hồ sơ liên quan đến việc kiểm tra các biện pháp phòng ngừa và đề phòng, truy xuất nguồn gốc, cân bằng khối lượng và đối với một số công bố và thông tin liên lạc cần thiết cho các hoạt động kiểm soát chính thức.

Mục đích của thông báo: Sau khi công bố Quy định (EU) 2018/848 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu về sản xuất hữu cơ và ghi nhãn các sản phẩm hữu cơ và bãi bỏ Quy định của Hội đồng (EC) số 834/2007, cần phải thông qua luật thực thi các quy định chi tiết nêu trên trước ngày 1 tháng 1 năm 2022. Các nhà sản xuất cần có đủ thời gian để thích ứng với các quy tắc mới và các Quốc gia thành viên EU để tích hợp các quy tắc mới này vào luật pháp quốc gia của họ; các mục đích khác.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Liên minh châu Âu về thực phẩm   

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/835  ngày 13/9/2021, Liên minh châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy định của Ủy ban từ chối cho phép công bố về sức khỏe đối với thực phẩm và đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật (3 trang, bằng tiếng Anh; 2 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo Quy định của Ủy ban này liên quan đến việc từ chối cho phép công bố về sức khỏe đối với thực phẩm và đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật theo Điều 17 (3) của Quy định (EC) số 1924/2006 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng Ngày 20 tháng 12 năm 2006 về các công bố dinh dưỡng và sức khỏe đối với thực phẩm.

Mục đích của thông báo: Biện pháp được đề xuất là Dự thảo Quy định của Ủy ban đối với yêu cầu về sức khỏe như đã đề cập ở trên theo điểm 6 đã được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đánh giá với kết quả không thuận lợi. Do đó, công bố về sức khỏe có trong dự thảo Quy định của Ủy ban này không tuân thủ các điều kiện được nêu trong Quy định (EC) số 1924/2006, và sẽ không được phép sử dụng trên thực phẩm; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Liên minh châu Âu về thực phẩm   

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/836  ngày 13/9/2021, Liên minh châu Âu (EU) thông báo Dự thảo Quy định của Ủy ban từ chối cho phép công bố về sức khỏe đối với thực phẩm, ngoại trừ những tuyên bố đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật và sự phát triển và sức khỏe của trẻ em (3 trang, bằng tiếng Anh; 2 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo Quy định này của Ủy ban liên quan đến việc từ chối cho phép một số công bố về sức khỏe được đưa ra đối với thực phẩm, ngoại trừ những tuyên bố đề cập đến việc giảm nguy cơ bệnh tật và sự phát triển và sức khỏe của trẻ em theo Điều 18 của Quy định (EC) số 1924/2006 của Châu Âu Nghị viện và Hội đồng ngày 20 tháng 12 năm 2006 về các tuyên bố về dinh dưỡng và sức khỏe được đưa ra đối với thực phẩm.

Mục đích của thông báo: Biện pháp được đề xuất là Dự thảo Quy định của Ủy ban đối với hai tuyên bố về sức khỏe như đã đề cập ở trên theo điểm 6 đã được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đánh giá với kết quả không thuận lợi. Do đó, các công bố về sức khỏe có trong Quy định của Ủy ban này không tuân thủ các điều kiện được nêu trong Quy định (EC) số 1924/2006, và sẽ không được phép sử dụng trên thực phẩm; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ấn Độ về dầu thực vật   

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/209  ngày 13/9/2021, Ấn Độ thông báo dự thảo Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Quảng cáo & công bố), năm 2021 (3 trang, bằng tiếng Anh).

Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Quảng cáo & công bố), năm 2021 đề cập đến các công bố về dầu thực vật ăn được.

Mục đích của thông báo: Để hạn chế việc đưa ra các công bố gây hiểu lầm/phóng đại về dầu ăn, một danh sách rõ ràng về các công bố được khoa học chứng minh dựa trên các đặc điểm đã xác định của dầu dừa nguyên chất, dầu Chia, dầu bơ, dầu hướng dương và dầu hạt rum – Axit oleic cao đang được đưa vào Lịch trình hiện có -IIA của Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Quảng cáo & công bố), năm 2018; Ngăn chặn các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ấn Độ về thực phẩm đóng gói sẵn

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/212 ngày 20/9/2021, Ấn Độ thông báo dự thảo Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Cấm và hạn chế bán hàng), năm 2021 (3 trang, bằng tiếng Anh).

Quy định này đề xuất cấm sản xuất, bán, lưu trữ và trưng bày để bán thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh ngoại trừ có Dấu chứng nhận BIS, khi bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn BIS.

Mục đích của Thông báo: Các quy định này đưa ra các yêu cầu về Dấu chứng nhận BIS (Cục tiêu chuẩn Ấn Độ) đối với thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh; Thông tin người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn; Bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ của động vật, thực vật.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ấn Độ về thực phẩm thuần chay

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/213 ngày 20/9/2021, Ấn Độ thông báo dự thảo Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Thực phẩm thuần chay), năm 2021 (4 trang, bằng tiếng Anh).

Quy định này đưa ra các điều khoản để đánh giá và chứng nhận thực phẩm thuần chay ở Ấn Độ bao gồm các yêu cầu về ghi nhãn và trình bày.

Mục đích của Thông báo: Theo quan điểm ngày càng phổ biến và thay đổi thói quen ăn uống đối với thực phẩm thuần chay, Cơ quan Tiêu chuẩn và An toàn Thực phẩm của Ấn Độ đã xây dựng các quy định để đánh giá và chứng nhận thực phẩm thuần chay ở Ấn Độ; đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hàn Quốc về thực phẩm

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/998 ngày 31/8/2021, Hàn Quốc thông báo Bản sửa đổi của “Luật Ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm” (6 trang, bằng tiếng Hàn).

Bộ An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc đang đề xuất sửa đổi “Luật Ghi nhãn và Quảng cáo thực phẩm”. Những thay đổi chính được đề xuất là:

Thực phẩm, v.v. phải được dán nhãn chữ nổi, mã chuyển đổi giọng nói và mã chuyển đổi hình ảnh ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thị và người khiếm thính trên thùng, bao bì hoặc tờ hướng dẫn sử dụng trong bao bì.

Mục đích của Thông báo: Để cung cấp cho người tiêu dùng thông tin tốt hơn và nâng cao sức khỏe cộng đồng; Thông tin người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ả rập Xê út về thực phẩm

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/SAU/1211 ngày 20/9/2021, Ả rập Xê út thông báo dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật về các yêu cầu đối với sản phẩm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (14 trang bằng tiếng Ả rập).

Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật này liên quan đến các yêu cầu đối với các sản phẩm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao dựa trên mô hình lập hồ sơ dinh dưỡng tại Vương quốc Ả Rập Xê Út. Mục tiêu chính của quy định này là nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và trao quyền cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn các thực phẩm lành mạnh hơn.

Mục đích của Thông báo: Giáo dục và thông tin cho người tiêu dùng, đưa ra các lựa chọn đối với thực phẩm lành mạnh; đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Đài Loan về sản phẩm lô hội

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/435/Rev.1 ngày 13/9/2021, Đài Loan thông báo dự thảo Quy định Hạn chế sử dụng và Yêu cầu ghi nhãn đối với sản phẩm Lô hội như thành phần thực phẩm (1 trang bằng tiếng Anh; 1 trang bằng tiếng Trung).

Dự thảo này quy định cụ thể những hạn chế sử dụng và yêu cầu ghi nhãn đối với sản phẩm lô hội dùng cho mục đích sản xuất thực phẩm.

Mục đích của Thông báo: Bảo vệ sức khoẻ hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Đài Loan về mật ong

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/464 ngày 31/8/2021, Đài Loan thông báo dự thảo Quy định quản lý việc ghi nhãn mật ong đóng gói sẵn và các sản phẩm siro của nó (2 trang, bằng tiếng Anh; 1 trang, bằng tiếng Trung).

Dựa trên các quy định tại Điều 22 của Luật Quản lý An toàn và Vệ sinh Thực phẩm, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm đề xuất công bố yêu cầu ghi nhãn đối với mật ong đóng gói sẵn và các sản phẩm siro của nó để người tiêu dùng có quyền lựa chọn sáng suốt.

Mục đích của Thông báo: Thông tin cho người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

* Lĩnh vực nông nghiệp

Thông báo của Canada về thức ăn chăn nuôi  

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CAN/645/Add.1  ngày 13/9/2021, Canada thông báo: Các ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi ở Canada và nước ngoài đã phát triển đáng kể kể từ lần xem xét toàn diện cuối cùng về Quy định quản lý thức ăn chăn nuôi năm 1983, hoạt động trong một môi trường chịu ảnh hưởng của một số yếu tố thay đổi như: nhận thức về dinh dưỡng, sản xuất và phân phối thức ăn, toàn cầu hóa thương mại, thừa nhận rằng thức ăn chăn nuôi là một thành phần không thể thiếu làm nền tảng cho sản xuất thực phẩm, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm và sự xuất hiện của các mầm bệnh và tác nhân gây bệnh mới (ví dụ, bệnh não xốp ở bò).

Các sửa đổi được đề xuất sẽ bãi bỏ và thay thế các Quy định quản lý thức ăn chăn nuôi năm 1983 và được yêu cầu thiết lập một khuôn khổ quy định về thức ăn chăn nuôi bao gồm phân tích mối nguy, kiểm soát phòng ngừa, truy xuất nguồn gốc, tăng cường yêu cầu lưu giữ hồ sơ và cấp phép. Những thay đổi này sẽ phù hợp hơn với các khuôn khổ quy định và các thông lệ quốc tế tốt nhất. Điều này sẽ cho phép Cơ quan Thanh tra Thực phẩm Canada (CFIA) và các ngành được quản lý hiểu và quản lý tốt hơn các rủi ro mà thức ăn chăn nuôi gây ra đối với sức khỏe vật nuôi, sức khỏe con người và môi trường, phản ánh các tiêu chuẩn quốc tế và bắt kịp với sự đổi mới của ngành, khoa học và công nghệ. Các sửa đổi được đề xuất bao gồm:

+ Sử dụng kết hợp theo tham chiếu (IbR) cho hầu hết các tiêu chuẩn thành phần và an toàn. Các tài liệu IbR sẽ được điều chỉnh theo thời gian để phản ánh bất kỳ thay đổi nào được thực hiện đối với các tiêu chuẩn thành phần và an toàn. Các tài liệu IbR này bao gồm danh sách các loại thức ăn chăn nuôi có thành phần đơn lẻ, nguyên liệu làm thuốc và các sản phẩm không phải thức ăn chăn nuôi được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi; bảo đảm chất dinh dưỡng và các điều kiện cho phép trên nhãn thức ăn chăn nuôi, giá trị dinh dưỡng tối đa trong thức ăn, hạt cỏ dại tối đa trong thức ăn Mức độ ô nhiễm tối đa trong thức ăn chăn nuôi; danh mục công bố được phép ghi trên nhãn thức ăn chăn nuôi; và danh sách các chất có hại theo quy định

+ Mở rộng quy mô các loài vật nuôi

+ Thiết lập các tiêu chuẩn chung và an toàn

+ Tăng cường liên kết quy định với các đối tác thương mại

+ Thiết lập các kế hoạch kiểm soát phòng ngừa

+ Yêu cầu ghi nhãn

+ Các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và lưu trữ hồ sơ

+ Giảm gánh nặng thông qua phê duyệt thức ăn chăn nuôi thành phần đơn lẻ và đánh giá đăng ký sản phẩm và các quy trình

+ Yêu cầu cấp phép Thời gian tham vấn đã được kéo dài đến ngày 15 tháng 10 năm 2021.

* Lĩnh vực khác

Thông báo của Australia về ghi nhãn sản phẩm dệt may

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/AUS/135 ngày 17/9/2021, Australia thông báo về việc Rà soát tiêu chuẩn thông tin – Ghi nhãn hướng dẫn sử dụng đối với quần áo và các sản phẩm dệt may.

Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Australia (ACCC) đang đề xuất đưa ra một tiêu chuẩn thông tin mới về ghi nhãn hướng dẫn sử dụng đối với quần áo và hàng dệt để cho phép các nhà cung cấp tùy chọn cung cấp thông tin này thông qua các ký hiệu hoặc chữ viết được quốc tế công nhận.

ACCC đã tham khảo ý kiến ​​về đề xuất này trên phạm vi toàn quốc và các bên liên quan đã hỗ trợ đề xuất này của tài liệu tham vẫn, theo phương án chính sách số 2 – cho phép các tiêu chuẩn quốc tế.

Đề xuất sẽ cho phép các nhà cung cấp tuân thủ các phần liên quan của một trong các tiêu chuẩn tự nguyện sau:

+ Tiêu chuẩn Úc / New Zealand (AS / NZS 1957: 1998 Dệt may – Ghi nhãn hướng dẫn sử dụng)

+ Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO 3758-2012 Dệt may – Mã ghi nhãn hướng dẫn sử dụng dùng ký hiệu)

Mục đích của việc rà soát: Tiêu chuẩn thông tin yêu cầu cung cấp một số thông tin hướng dẫn sử dụng nhất định đối với quần áo và hàng dệt ở Australia. Thông tin hướng dẫn sử dụng này này cung cấp cho người tiêu dùng, thợ giặt khô và chuyên gia làm sạch thông tin về cách chăm sóc quần áo và hàng dệt để giúp tối đa hóa tuổi thọ hữu ích của chúng và tránh hư hỏng như co rút và bay màu. Tiêu chuẩn thông tin hiện tại yêu cầu các hướng dẫn sử dụng đối với giặt, tẩy trắng, sấy khô và ủi phải được viết bằng tiếng Anh và được đính kèm với quần áo và hàng dệt hiện hành. ACCC đang đề xuất cho phép cung cấp thông tin hướng dẫn sử dụng này thông qua việc sử dụng các ký hiệu được quốc tế công nhận, được tham chiếu trong tiêu chuẩn quốc tế, như một sự thay thế cho các yêu cầu hiện có. Cho phép tuân thủ các tiêu chuẩn này sẽ làm giảm gánh nặng pháp lý đối với ngành công nghiệp, do đó giảm các rào cản kỹ thuật đối với thương mại; Thông tin người tiêu dùng, ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Vương quốc Anh về sản phẩm điện, điện tử

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GBR/43 ngày 24/9/2021, Vương quốc Anh thông báo dự thảo Văn bản pháp luật: Quy định Hạn chế sử dụng một số chất nguy hiểm trong thiết bị điện và điện tử (Sửa đổi) năm 2021 (2 trang, bằng tiếng Anh).

Các biện pháp này sẽ sửa đổi việc Hạn chế sử dụng một số chất nguy hiểm trong thiết bị điện và điện tử năm 2012 (“Quy định RoHS”) khi chúng được áp dụng ở Anh, xứ Wales và Scotland.

Quy định 2 (2) sẽ sửa đổi danh sách các chất bị hạn chế trong Phụ lục A1 để mở rộng hạn chế sử dụng bốn chất bị hạn chế (Bis (2-ethylhexyl) phthalate (DEHP), Butyl benzyl phthalate (BBP), Dibutyl phthalate (DBP)) và Disobutyl phthalate (DIBP)) đối với các thiết bị y tế và dụng cụ giám sát và kiểm soát.

Quy định 2 (3) sẽ gia hạn việc miễn trừ thủy ngân được sử dụng trong các đầu nối xoay điện được sử dụng trong hệ thống hình ảnh siêu âm ở mục số 93 của Bảng 1 trong Phụ lục A2 của Quy định RoHS trong thời hạn 5 năm.

Quy định 2 (3) (b) sẽ cấp miễn trừ mới khỏi danh sách các chất bị hạn chế trong Bảng A1 đối với Quy định RoHS bằng cách bổ sung một số hợp chất chì nhất định và một dạng crom (bari) hóa trị sáu được sử dụng trong việc cung cấp điện và điện tử. các chất khởi tạo chất nổ cho vật liệu nổ dân dụng vào danh sách trong Bảng 1 trong Phụ lục A2 của các ứng dụng được miễn hạn chế trong quy định 3 (1) của Quy định RoHS. Việc miễn trừ sẽ được cấp trong thời gian kết thúc vào ngày 20 tháng 4 năm 2026.

Mục đích của thông báo: Sự thích ứng của pháp luật hiện hành với tiến bộ khoa học và kỹ thuật; loại bỏ dần các chất được quan tâm rất cao (SVHC) trong thiết bị điện nhằm tạo điều kiện tái chế và giảm tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với sức khỏe con người và môi trường, đồng thời cho phép các nhà khai thác kinh tế có đủ thời gian chuyển đổi để tuân thủ. ; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Bảo vệ môi trường.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 23/11/2021.

Thông báo của Ấn Độ về bao bì thực phẩm   

*******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/210  ngày 20/9/2021, Ấn Độ thông báo dự thảo Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn thực phẩm (Bao bì), năm 2021.

Dự thảo Quy định sửa đổi Tiêu chuẩn và An toàn Thực phẩm (Bao bì), năm 2021 liên quan đến giới hạn di chuyển cụ thể của một số chất từ vật liệu đóng gói dự định tiếp xúc với các sản phẩm thực phẩm.

Mục đích của thông báo: Cơ quan Tiêu chuẩn và An toàn Thực phẩm của Ấn Độ sửa đổi danh sách bằng cách bổ sung giới hạn di chuyển cụ thể cho Antimon và DEHP đối với vật liệu đóng gói nhằm mục đích tiếp xúc với các sản phẩm thực phẩm; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

 Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

(Lê Thành Kông dịch từ các Thông báo TBT của WTO)

II. THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Hướng dẫn chế độ kế toán cho các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

*******

Ngày 11/10/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 88/2021/TT-BTC về hướng dẫn chế độ kế toán cho các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Tại Thông tư, Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập chứng từ kế toán và ghi sổ kế toán của các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai.

Cụ thể, nội dung chứng từ kế toán, việc lập, lưu trữ và ký chứng từ kế toán của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được vận dụng theo các Điều 16, 18 và 19 Luật Kế toán và theo hướng dẫn tại Phụ lục 1 “Biểu mẫu và phương pháp lập chứng từ kế toán” ban hành kèm theo Thông tư.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được vận dụng các quy định tại Điều 17, Điều 18 Luật Kế toán về việc lập và lưu trữ chứng từ kế toán dưới dạng điện tử để thực hiện cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Nội dung sổ kế toán, việc mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được vận dụng theo các Điều 24, 25, 26 Luật Kế toán và theo hướng dẫn tại Phụ lục 2 “Biểu mẫu và phương pháp ghi sổ kế toán” ban hành kèm theo Thông tư.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được vận dụng các quy định về việc mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán trên phương tiện điện tử theo quy định tại Điều 26 Luật Kế toán để thực hiện cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được vận dụng các quy định về việc sửa chữa sổ kế toán tại Điều 27 Luật Kế toán để thực hiện cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

Hướng dẫn thực hiện các quy định về hóa đơn, chứng từ

*******

Ngày 17/9/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 78/2021/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật quản lý thuế ngày 13/6/2019, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ, bao gồm:

– Một số nội dung về hóa đơn điện tử gồm: ủy nhiệm lập hóa đơn điện tử; ký hiệu mẫu số, ký hiệu hóa đơn điện tử; chuyển đổi áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế; áp dụng hóa đơn điện tử đối với một số trường hợp khác; xử lý hóa đơn điện tử, bảng tổng hợp dữ liệu hóa đơn điện tử đã gửi cơ quan thuế có sai sót; hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế; tiêu chí đối với tổ chức cung cấp dịch vụ về hóa đơn điện tử để ký hợp đồng cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế và dịch vụ nhận, truyền, lưu trữ dữ liệu hóa đơn và các dịch vụ khác có liên quan.

– Một số nội dung về hóa đơn giấy gồm: tên loại hóa đơn, ký hiệu mẫu số hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, tên liên hóa đơn do Cục Thuế đặt in, ký hiệu mẫu số hóa đơn là tem, vé, thẻ do Cục Thuế đặt in.

– Sử dụng biên lai, chứng từ.

– Hướng dẫn xử lý chuyển tiếp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử theo hướng dẫn tại Thông tư này và của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP trước ngày 01 tháng 7 năm 2022.

Hóa đơn điện tử áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022. Riêng trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP không thực hiện giao dịch với cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử, không có hạ tầng công nghệ thông tin, không có hệ thống phần mềm kế toán, không có phần mềm lập hóa đơn điện tử để sử dụng hóa đơn điện tử và để truyền dữ liệu điện tử đến người mua và đến cơ quan thuế thì sử dụng hóa đơn giấy của cơ quan thuế trong thời gian tối đa 12 tháng, đồng thời cơ quan thuế có giải pháp chuyển đổi dần sang áp dụng hóa đơn điện tử. Thời gian tối đa 12 tháng được tính một lần kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang hoạt động từ trước 01 tháng 7 năm 2022; hoặc kể từ thời điểm đăng ký bắt đầu sử dụng hóa đơn đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới thành lập từ ngày 01 tháng 7 năm 2022.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết./.

 (Nguyễn Thị Thắng)

III. THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG – HỘI NHẬP

Các bước cơ bản để đưa quả tươi của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

*******

Để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu quả tươi của Việt Nam vào Nhật Bản, sau đây là các bước cơ bản để tiến hành các thủ tục xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Nhật Bản:

1) Đàm phán giữa 2 cơ quan chuyên trách của chính phủ đưa ra nhu cầu của phía Việt Nam và được phía Nhật Bản chấp nhận xem xét. (Bộ Nông Lâm ngư nghiệp NB và Bộ NN&PTNT VN)

2) Phía Việt Nam tiến hành khảo sát lập danh sách sâu bệnh đối với loại quả đó và gửi phía Nhật kiểm tra, xem xét.

3) Nếu thấy có thể xử lý được các loại sâu bệnh đó thì phía Nhật sẽ đưa ra phương án, kỹ thuật cũng như công nghệ và thiết bị để Việt Nam tham khảo. Khâu này thường phức tạp và tốn kém nhất, mất thời gian thử nghiệm. Ví dụ quả thanh long của ta phải vay ODA của Nhật và mất tới 3 năm chỉ để thử nghiệm từ khâu trồng trọt đến sử lý côn trùng.

4) Khi nhận được kết quả báo cáo của cả quá trình thử nghiệm, phía Nhật Bản bắt đầu xem xét và lấy ý kiến góp ý của các nhà khoa học chuyên môn và của cộng đồng. (thường nhanh nhất là 6 tháng đến 1 năm)

5) Khi có kết quả điều tra, lấy ý kiến cộng đồng, phía Nhật Bản sẽ ra quyết định cho phép và thông báo quả tươi đó của Việt Nam đủ điều kiện xuất khẩu vào Nhật Bản.
Tuy nhiên, để quả tươi thực sự được thông quan tại Nhật Bản, còn 1 khâu quan trọng nữa là kiểm tra ATVSTP do các trạm kiểm nghiệm của Bộ Y tế và Phúc lợi Nhật Bản tại cửa khẩu thực hiện. Nếu quả tươi đó dù đã được xử lý côn trùng nhưng dư lượng thuốc nông nghiệp quá mức quy định của Nhật Bản thì vẫn bị trả về.

Tổng thời gian các bước tùy thuộc vào loại quả có nhiều loại côn trùng cần xử lý hay không, cần nhiều thời gian thử nghiệm hay không. Trung bình từ 3-5 năm.

(Lê Thành Kông)

 

Các khu thương mại tự do của Các Tiểu Vương Quốc Ả rập thống nhất

*******

Các Tiểu Vương Quốc Ả rập thống nhất (United Arab Emirates – gọi tắt là UAE) là quốc gia thuộc khu vực Tây Á, hay còn gọi là Trung Đông, có vị trí địa lý giao thương thuận lợi, nằm ở ngã ba giao thoa giữa Châu Âu, Châu Á và Châu Phi với tổng diện tích là trên 83 nghìn km2 và dân số đạt khoảng 10 triệu người, trong đó 1,8 triệu người là người bản địa và còn lại là người nhập cư, lao động, làm việc kinh doanh tại UAE. UAE là bao gồm 07 Tiểu vương quốc. Trong đó nổi bật nhất là 02 Tiểu vương: Abu Dhabi là trung tâm hành chính và Dubai là trung tâm về kinh tế, tài chính. Tổng kim ngạch thương mại phi dầu mỏ của Dubai năm 2020 đạt khoảng 324 tỷ USD với hơn 100 triệu tấn hàng hóa. Dubai xuất khẩu khoảng 46 tỷ USD, nhập khẩu khoảng 188 tỷ USD và hàng hóa tái xuất đạt khoảng 90 tỷ USD. Riêng với thương mại trong các khu tự do, kim ngạch năm 2020 đạt tới 127,2 tỷ USD.

Dubai cũng có quan hệ đối tác rất đa dạng và với các đối tác hàng đầu trên thế giới. Đối tác thương mại lớn nhất của Dubai là Trung Quốc với kim ngạch đạt xấp xỉ 39 tỷ USD, tiếp theo là Ấn Độ đạt 25 tỷ USD, Mỹ đạt 17 tỷ USD…

  1. Tổng quan về các khu thương mại tự do của UAE

Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất là một trong những quốc gia nổi tiếng với rất nhiều khu thương mại tự do (Free Trade Zones viết tắt là FTZs) phi thuế quan và có cơ sở hạ tầng, giao thông, vận tải, logistics… tốt nhất khu vực Trung Đông, Châu Phi cũng như trên thế giới. Ngoài ra, UAE còn là quốc gia phát triển Chính phủ điện tử hiện đại, các làng tri thức, ốc đảo Silicon…

Từ năm 1985, UAE đã thành lập khu thương mại tự do đầu tiên với vai trò là động lực để đa dạng hóa nền kinh tế. Hiện nay, tại UAE, Dubai là Tiểu vương có số lượng FTZs lớn nhất với các hoạt động chủ yếu là các dịch vụ và thương mại với 100% vốn sở hữu nước ngoài.

Khu Thương mại tự do đầu tiên là Jebel Ali Free Zone (JAFZA) được thành lập năm 1985, nằm giữa cảng Jebel Ali (cảng container lớn thứ 6 trên thế giới) và sân bay quốc tế Al Maktoum. JAFZA là trung tâm kho bãi và phân phối cho khu vực vùng Vịnh. Đây là đô thị quốc tế với 80% dân số là nước ngoài, có công dân của trên 180 quốc gia sinh sống; là thành phố của kiến trúc và xây dựng hiện đại. JAFZA là trụ sở của một loạt các công ty sản xuất, dịch vụ và thương mại và hiện tại đã có hơn 7.000 công ty hoạt động tại đây, trong đó có trên 100 công ty thuộc danh sách Fortune 500 toàn cầu.

Dubai International Financial Centre (DIFC): là trung tâm tài chính quốc tế phục vụ cho khu vực rộng lớn giữa Tây Âu và Đông Á. DIFIC có mục tiêu phát triển giống như các trung tâm tài chính New York, London hay Hồng Kông.

Kể từ khi mở cửa vào tháng 9/2004, DIFC đã thu hút được các công ty tầm cỡ từ khắp nơi trên thế giới đến đầu tư. Sàn giao dịch chứng khoán Dubai (Dubai International Financial Exchange – DIFX) đã được mở tại DIFC vào tháng 9/2005. DIFC tập trung vào một số lĩnh vực hoạt động tài chính: dịch vụ ngân hàng (Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng Doanh nghiệp & Ngân hàng cá nhân); thị trường vốn (Equity, Debt Instruments, Derivatives and Commodity Trading); quản lý tài sản và đăng ký quỹ; bảo hiểm và tái bảo hiểm; các nhà cung cấp dịch vụ tài chính Hồi giáo và các dịch vụ chuyên môn khác.

  1. Các đặc điểm nổi bật của các khu thương mại tự do

Về thể chế: Các khu tự do của UAE đều do Chính phủ xây dựng và sở hữu. Ở cấp bộ, Bộ Tài chính và Bộ Công nghiệp có trách nhiệm xây dựng và triển khai các quy hoạch phát triển công nghiệp. Các khu tự do được thành lập trên cơ sở thực hiện các luật do các Tiểu vương quốc thông qua. Các Tập đoàn Chính phủ có quyền sở hữu hợp pháp các khu tự do. Đối với các khu gắn với cảng hoặc sân bay, nhà đầu tư kết cấu hạ tầng khu thường là Cảng vụ.

Về ưu đãi: UAE có mức ưu đãi cạnh tranh nhất thế giới, với các mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, hải quan tại các FTZs là 0%; không hạn ngạch; không có kiểm soát về ngoại hối; 100% vốn và lợi nhuận được chuyển về nước mà không phải nộp bất cứ khoản thuế hay lệ phí nào; giảm thiểu các thủ tục rườm rà và nạn quan liêu; không hạn chế việc thuê lao động nước ngoài; giá thuê đất hợp lý có gia hạn thuê trong thời gian dài; giảm 30% chi phí cho các công ty công nghệ.

Về đất đai: Chính sách đất đai do từng tiểu bang quyết định. Dubai là nơi đầu tiên cho phép các công ty nước ngoài có quyền hoàn toàn sở hữu bất động sản từ năm 2002, sau đó một số tiểu vương quốc khác cũng áp dụng cơ chế này nhưng ở mức hạn chế hơn. Tuy nhiên, nhà đầu tư bắt buộc phải thuê đất trong các khu tự do.

–  Về hạ tầng: UAE có kết cấu hạ tầng đồng bộ, đạt chất lượng. Hầu hết các khu đều có vị trí gần các cảng biển và cảng hàng không quốc tế và đều được hưởng lợi từ những lợi thế có tính đòn bẩy này.

Các khu với mô hình lấy tri thức làm nền tảng như Thành phố Truyền thông Dubai lắp đặt một loạt hạ tầng thông tin được thiết kế theo nhu cầu cụ thể của từng nhà đầu tư. Để tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thể hoạt động ngay, hầu hết các khu xây dựng các kết cấu hạ tầng nhà xưởng theo thiết kế sẵn để cho thuê. Nhiều khu trong UAE có kết cấu hạ tầng đồng bộ với các hạng mục như: khách sạn trong khu, khu dân cư, các dịch vụ tài chính, giải trí và các cơ sở giáo dục.

Các hạn chế: Các khu thương mại tự do của UAE đều có chung những hạn chế sau:

+ Không được phép kinh doanh trực tiếp với thị trường UAE. Có thể kinh doanh trong UAE chỉ khi thông qua các nhà phân phối được chỉ định tại địa phương.

+ Mức thuế 5% được áp dụng khi công ty khu vực tự do bán hàng tại thị trường địa phương.

+ Nhân viên có thị thực của các công ty sẽ chỉ làm việc trong các văn phòng của công ty đó. Việc quản lý lao động là vấn đề gây khó khăn cho các chủ doanh nghiệp tại FTZ.

  1. Một số khu thương mại tự do nổi bật của UAE

     a. Khu thương mại tư do JEBEL Ali – Dubai

Khu thương mại tự do JEBEL Ali nằm cách trung tâm thành phố Dubai khoảng 50km về phía Tây Nam với tổng diện tích là 48 km2. Sau các lần mở rộng quy mô liên tiếp, Cảng JEBEL Ali là cảng thứ ba trên thế giới được đưa vào hoạt động tại sân bay lớn nhất thế giới – sân bay quốc tế Mark. Hiện nay, khu thương mại tự do JEBEL Ali là mô hình lâu đời và thành công nhất tại vùng Trung Đông và Bắc Phi và là khu thương mại tự do đầu tiên được cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000. Bên cạnh đó, đây cũng là khu thương mại tự do nhộn nhịp và có hiệp định tự do FTA hoàn thiện nhất hiện nay.

Có khoảng hơn 7.000 doanh nghiệp hoạt động tại khu JEBEL Ali. Doanh thu hàng năm đạt 82 tỷ USD, chiếm ¼ tổng khối lượng thương mại phi dầu mỏ hàng năm. Đồng thời, xuất khẩu chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Dubai. Tại khu vực này, 90% hoạt động thương mại là giao dịch trung chuyển.

    b. Trung tâm tài chính quốc tế Dubai (DIFC)

Trung tâm tài chính quốc tế DIFC đi vào hoạt động năm 2004 nhằm thu hút các ngân hàng quốc tế, các nhà quản lý quỹ và bảo hiểm với chính sách ưu đãi thuế hấp dẫn và môi trường đầu tư đa quốc gia.

Sự hình thành DIFC tạo ra môi trường thương mại, tài chính, chính doanh sôi động và thu hút các chuyên gia hàng đầu trên thế giới trong nhiều lĩnh vực. DIFC phát triển mạnh mẽ, mang tính toàn cầu và trở thành của ngõ đầu tư chiến lược quan trọng cho khu vực và quốc tế, là biểu tượng cho những suy nghĩ mới và là minh chứng thực tiễn tốt nhất cho sự phát triển.

    c. Thành phố Nam Dubai (Dubai South)

Thành phố Nam Dubai – là dự án được quy hoạch tổng thể với diện tích 145 km2 dựa trên hạnh phúc của từng cá nhân. Được Chính phủ khởi công vào năm 2006, thành phố Nam Dubai được tiếp cận dễ dàng từ khu vực trung tâm của thành phố Dubai và thủ đô Abu Dhabi.

Đây là dự án đô thị hàng đầu của Vương quốc Dubai và được xem là trọng tâm của Quốc vương Mohammed bin Rashid Al Maktoum.

(Nguyễn Thị Thắng)

 

IV. TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Câu hỏi: Tiêu chuẩn có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp?

Trả lời: Tiêu chuẩn là công cụ hữu hiệu trong quản lý sản xuất, kinh doanh, giúp nâng cao năng suất, chất lượng, tạo lợi thế cạnh tranh, nhờ đó doanh nghiệp có thể tạo được ảnh hưởng của mình đối với thị trường trong nước, mở rộng cánh cửa vào thị trường thế giới.

Tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp kiểm soát các hoạt động nội bộ, hạn chế các rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo thế phát triển bền vững, lâu dài.

Tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất, kiểm tra sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu khác nhau của các quốc gia, nhờ đó có thể đảm bảo sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp phù hợp với các thị trường khác nhau.

Tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp tạo nên giá trị cao quý đối với xã hội, như đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe, môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các trách nhiệm xã hội.

Tiêu chuẩn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ lĩnh vực tổ chức – quản lý, thiết kế, cung ứng vật tư đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.

*******

Câu hỏi: Lợi ích của tiêu chuẩn đối với doanh nghiệp là gì?

Trả lời: Lợi ích của tiêu chuẩn đối với doanh nghiệp nằm ở tất cả các khâu trong quy trình sản xuất, kinh doanh, cụ thể:

Trong tổ chức – quản lý

  • Giảm thủ tục không cần thiết;
  • Giảm công việc văn phòng;
  • Giảm chi phí đào tạo;
  • Giảm chi phí chung;
  • Làm chủ và kiểm soát được các hoạt động.

Trong thiết kế

  • Nhanh hơn;
  • Hiệu quả hơn;
  • Tin cậy hơn;
  • Giảm chi phí nghiên cứu – phát triển.

Trong cung ứng vật tư

  • Giảm chủng loại, lượng hàng đặt mua;
  • Tiết kiệm do không cần nhiều kho bãi dự trữ;
  • Giảm những công việc giao dịch liên quan;
  • Đảm bảo chất lượng hàng mua vào;
  • Giảm chi phí lưu kho và kiểm tra đầu vào.

Trong sản xuất

  • Bảo đảm quá trình sản xuất liên tục, linh hoạt và được kiểm soát;
  • Nâng cao hiệu suất sử dụng trang thiết bị;
  • Giảm chi phí bảo dưỡng, thay thế, sửa chữa;
  • Giảm chủng loại trang thiết bị sử dụng;
  • Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa phù hợp với thiết kế;
  • Bảo đảm an toàn, sức khỏe người lao động.

Trong đóng gói, bảo quản

  • Duy trì chất lượng và an toàn sản phẩm, hàng hóa;
  • Hạ giá thành sản phẩm và tạo thuận lợi cho vận chuyển sản phẩm, hàng hóa.

Trong tiêu thụ/bán hàng

  • Nâng cao lòng tin của khách hàng;
  • Giúp khách hàng nhận biết và lựa chọn sản phẩm, hàng hóa phù hợp;
  • Giảm khối lượng công việc giao dịch, trao đổi với khách hàng;

(Nguyễn Thị Thắng)