Bản tin TBT Tháng 2/2020

Người viết: admin - Ngày viết: Tuesday, Feb 25, 2020 | 7:46 - Lượt xem: 294

I. TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Albania về ghi nhãn thức ăn chăn nuôi

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ALB/94 ngày 09/01/2020, Albania thông báo về Dự thảo quyết định về “Phê duyệt các quy tắc ghi nhãn thức ăn chăn nuôi; các sản phẩm thực phẩm có chứa sinh vật biến đổi gen” (22 trang, tiếng Albania)

Dự thảo Quyết định này đưa ra các quy tắc cho việc ghi nhãn:

  1. thức ăn dùng để chăn nuôi;
  2. Sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi;
  3. thức ăn chăn nuôi có chứa hoặc bao gồm sinh vật biến đổi gen;
  4. thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ ​​sinh vật biến đổi gen;

Quyết định này không áp dụng cho việc ghi nhãn thức ăn chăn nuôi trong những trường hợp sau:

  1. được sử dụng cho tiêu dùng cá nhân và không có ý định được đưa ra thị trường;
  2. có chứa thức ăn chăn nuôi bao gồm hoặc được sản xuất từ ​​sinh vật biến đổi gen không vượt quá 0,9% trong thức ăn chăn nuôi, với điều kiện là sự hiện diện đó là không thể tránh khỏi hoặc không thể tránh khỏi về mặt kỹ thuật. Để chứng minh rằng sự hiện diện của những thực phẩm này là không thể tránh khỏi hoặc không thể tránh khỏi về mặt dân tộc, các doanh nghiệp có thể phải xuất trình cho các cơ quan kiểm soát có thẩm quyền bằng chứng và sự thật rằng họ đã thực hiện các biện pháp thích hợp để tránh sự hiện diện của những thực phẩm đó;
  3. dùng làm thuốc

Mục đích của quyết định này là xác định các yêu cầu của việc ghi nhãn thức ăn chăn nuôi, nhằm đảm bảo mức độ an toàn thực phẩm cao cho động vật, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cung cấp thông tin phù hợp cho người dùng và người tiêu dùng và cho hoạt động hiệu quả của thị trường nội địa.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về đồ uống

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/469, G/TBT/N/BHR/570, G/TBT/N/KWT/528, G/TBT/N/OMN/403, G/TBT/N/QAT/566, G/TBT/N/SAU/1122, G/TBT/N/YEM/170 ngày 09/01/2020, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gọi tắt là GCC gồm: Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật về Đồ uống có hương vị (6 trang), bằng tiếng Anh; 7 trang, bằng tiếng Anh)

Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng cho đồ uống có hương vị không có ga, từ nước và đường, với một hoặc nhiều hương liệu nhân tạo hoặc tự nhiên và phụ gia được đề cập trong mục (4.4) và (5.4) của nước ép trái cây.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm thông tin cho người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh về thực phẩm đóng gói sẵn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARE/472, G/TBT/N/BHR/573, G/TBT/N/KWT/531, G/TBT/N/OMN/406, G/TBT/N/QAT/569, G/TBT/N/SAU/1125, G/TBT/N/YEM/173 ngày 09/01/2020, Hội đồng hợp tác các quốc gia vùng Vịnh (gọi tắt là GCC gồm: Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh, Cô-oét, Ô-man, Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi, Yemen) thông báo ban hành Quy chuẩn kỹ thuật về ghi nhãn các loại thực phẩm đóng gói sẵn (18 trang, bằng tiếng Ả Rập).

Quy chuẩn kỹ thuật vùng Vịnh này liên quan đến việc ghi nhãn thực phẩm đóng gói sẵn, được trình bày cho người tiêu dùng cuối cùng theo cách này hoặc cho các mục đích phục vụ thực phẩm hoặc dịch vụ ăn uống mà không thay đổi bao bì, cũng như các yêu cầu liên quan theo cách trình bày .

Mục đích ban hành quy chuẩn này đảm bảo an toàn và bảo vệ người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Argentina về đồ uống có cồn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARG/382 ngày 09/01/2020, Argentina thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết Liên tịch, “Bộ luật Thực phẩm Argentina, Chương V, Quy định về ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm, Điều 236: Ghi nhãn đồ uống có cồn – Hội chứng rượu bào thai”) (3 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Văn bản dự thảo, do Ủy ban Thực phẩm Quốc gia (CONAL) soạn thảo, thay thế Điều 236, quy định rằng: “[…] Nhãn trên đồ uống có cồn được bán ở nước này phải có ký hiệu hoặc chữ tượng hình, bao gồm một hình tròn có dấu gạch chéo trên hình của một người phụ nữ mang thai, được in ở một nơi có thể nhìn thấy và có màu tương phản để đảm bảo tầm nhìn chính xác của nó […] “.

Các công ty sẽ được áp dụng một khoảng thời gian 36 tháng để tuân thủ.

Hiện tại, Điều 236 quy định: “Bị bãi bỏ bởi Nghị quyết chung MSyA số 149/05 và SAGPyA số 683/05”

Mục đích ban hành quy định này nhằm phòng ngừa hội chứng rượu bào thai; Thông tin người tiêu dùng; Ghi nhãn; Phòng ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; và các mục đích khác.

Hạn góp ý cuối cùng 30 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Argentina về thực phẩm có nguồn gốc thực vật

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARG/383 ngày 09/01/2020, Argentina thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết chung “Bộ luật Thực phẩm Argentina – Chương XI: Thực phẩm từ thực vật – Điều 827 bis: Thực phẩm và đồ uống có chứa lô hội”) (3 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Văn bản dự thảo, do Ủy ban Thực phẩm Quốc gia (CONAL) soạn thảo, kết hợp Điều 827 bis, quy định như sau: “[…] Thực phẩm và đồ uống có chứa lô hội phải tuân thủ mức aloin tối đa được thiết lập trong Bộ luật này. Ngoài ra, nhãn đính kèm với thực phẩm và đồ uống thuộc loại này phải ghi rõ rằng sản phẩm không được khuyến nghị cho trẻ em dưới 12 tuổi hoặc phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú [….]”.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng; Ghi nhãn; Phòng ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; và các mục đích khác.

Hạn góp ý cuối cùng 30 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Argentina về bao bì và dụng cụ tiếp xúc với thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARG/384 ngày 09/01/2020, Argentina thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết Liên tịch “Bộ luật Thực phẩm Argentina – Chương IV: Container, bao bì, bao gói, thiết bị và phụ kiện – Điều khoản không số: Ghi nhãn bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm”) (12 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Văn bản dự thảo, được soạn thảo bởi Ủy ban Thực phẩm Quốc gia (CONAL), kết hợp một Điều khoản không số đặt ra yêu cầu nhận dạng và ghi nhãn đối với bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Nó được áp dụng cụ thể cho các cơ sở bán lẻ và tiếp thị cho việc sử dụng công nghiệp.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng; Ghi nhãn; Phòng ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; và các mục đích khác.

Hạn góp ý cuối cùng 30 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Braxin về ghi nhãn sản phẩm vệ sinh, mỹ phẩm, nước hoa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/954 ngày 08/01/2020, Braxin thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết 758, ngày 19 tháng 12 năm 2019. (7 trang; bằng Tiếng Bồ Đào Nha)

Dự thảo Nghị quyết này đề xuất việc cập nhật các yêu cầu kỹ thuật cho việc ghi nhãn các sản phẩm vệ sinh cá nhân, mỹ phẩm và nước hoa.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 02/3/2020.

Thông báo của Braxin về sản phẩm vệ sinh, mỹ phẩm, nước hoa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/BRA/960 ngày 24/01/2020, Braxin thông báo ban hành Dự thảo Nghị quyết 749, ngày 02 tháng 12 năm 2019. (26 trang; bằng Tiếng Bồ Đào Nha)

Dự thảo nghị quyết này quy định việc cập nhật danh sách các chất sử dụng cho mục đích bảo quản được phép sử dụng cho các sản phẩm vệ sinh cá nhân, mỹ phẩm và nước hoa.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe con người.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 12/2/2020.

Thông báo của Trung Quốc về sản phẩm sinh học

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHN/1402 ngày 06/01/2020, Trung Quốc thông báo ban hành Các biện pháp hành chính đối với việc phát hành lô sản phẩm sinh học (Dự thảo sửa đổi cho ý kiến) (22 trang, tiếng Trung Quốc)

Để tăng cường quản lý phát hành lô sản phẩm sinh học, và đảm bảo chất lượng và an toàn của sản phẩm sinh học.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ai Cập về tấm gỗ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EGY/238 ngày 08/01/2020, Ai Cập thông báo ban hành Sắc lệnh của Bộ trưởng số 1093/2019 (1 trang, bằng tiếng Ả Rập) bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Ai Cập số ES 8295 “Cấu trúc gỗ – Gỗ dán và gỗ dán keo – Yêu cầu” (107 trang, bằng tiếng Anh)

Nghị định số 1093/2019 của Bộ trưởng cho phép các nhà sản xuất và nhập khẩu có thời hạn chuyển tiếp sáu tháng để tuân thủ tiêu chuẩn ES 8295 của Ai Cập, quy định các yêu cầu về hiệu suất của các sản phẩm được dán keo sau đây:

– Gỗ dán nhiều lớp (glulam);

– Gỗ dán keo;

– Khối gỗ dán glulam để sử dụng trong các tòa nhà và cầu;

– Gỗ dán nhiều lớp với khớp nối lớn.

Quy định cũng đưa ra các yêu cầu sản xuất tối thiểu, các quy định để đánh giá và chứng nhận sự phù hợp và đánh dấu các sản phẩm dán keo.

Tiêu chuẩn này được áp dụng cho gỗ dán nhiều lớp được làm từ các loài cây lá kim được liệt kê trong tiêu chuẩn này hoặc cây dương bao gồm hai hoặc nhiều lớp có độ dày từ 6 mm đến 45 mm (bao gồm).

Đáng nói là tiêu chuẩn này áp dụng quy định kỹ thuật của tiêu chuẩn EN 14080: 2013.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ và đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Liên minh Châu Âu về chất đồng dạng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/696 ngày 20/01/2020, Liên minh Châu Âu thông báo ban hành Dự thảo Quy định của Ủy ban sửa đổi Phụ lục III thành Quy định (EC) 1107/2009 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu liệt kê các chất đồng dạng không được chấp nhận để đưa vào các sản phẩm bảo vệ thực vật (5 trang, bằng tiếng Anh).

Các chất đồng dạng được sử dụng cùng với các hoạt chất trong các sản phẩm bảo vệ thực vật và tá dược và do đó được lan truyền trong môi trường một cách tương đương. Các chất đồng dạng không được chấp nhận trong các sản phẩm bảo vệ thực vật và tá dược nếu được xác định rằng (a) dư lượng của chúng, do áp dụng phù hợp với thực hành tốt về bảo vệ thực vật, và liên quan đến điều kiện sử dụng thực tế, có ảnh hưởng có hại đến sức khỏe con người hoặc động vật hoặc đối với nước ngầm hoặc ảnh hưởng không thể chấp nhận được đối với môi trường, hoặc (b) nếu việc sử dụng của chúng, do đó ứng dụng phù hợp với thực hành tốt về bảo vệ thực vật, và liên quan đến điều kiện sử dụng thực tế, có ảnh hưởng có hại đến sức khỏe của con người hoặc động vật hoặc có tác dụng không thể chấp nhận đối với cây trồng, sản phẩm thực vật hoặc môi trường. Các chất đồng dạng không được chấp nhận này phải được liệt kê trong Phụ lục III của Quy định (EC) số 1107/2009.

Dự thảo Quy định này sẽ thiết lập danh sách đầu tiên các chất đồng dạng không được chấp nhận, chủ yếu dựa trên các đề xuất từ ​​các quốc gia thành viên EU, những nước đã xác định các chất liên quan trước đó là các chất đồng dạng không được chấp nhận trong các sản phẩm bảo vệ thực vật hoặc tá dược.

Các quốc gia thành viên của EU phải sửa đổi hoặc thu hồi các sản phẩm hoặc tá dược bảo vệ thực vật hiện có chứa các chất được liệt kê muộn nhất sau 2 năm kể từ ngày có hiệu lực. Bất kỳ thời gian ân hạn nào được cấp bởi các quốc gia thành viên theo Điều 46 của Quy định (EC) số 1107/2009 hoặc các quy định quốc gia về ủy quyền cho tá dược sẽ càng ngắn càng tốt và sẽ hết hạn để bán và phân phối trong 3 tháng gần nhất và để xử lý, lưu trữ và sử dụng thêm 9 tháng sau ngày bãi bỏ hoặc sửa đổi ủy quyền.

Mục đích ban hành Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; Bảo vệ đời sống hoặc sức khỏe của động vật hoặc thực vật; Bảo vệ môi trường.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Vương quốc Anh về đồ nhựa gia dụng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/GBR/34 ngày 14/01/2020, Vương quốc Anh thông báo ban hành Quy định về bảo vệ môi trường năm 2020 (áp dụng đối với ống hút nhựa, tăm bông và que khuấy) (Anh).

Dự thảo quy định nghiêm cấm việc cung cấp ống hút nhựa, que khuấy nước uống bằng nhựa và tăm bông trong quá trình kinh doanh.

Theo dự thảo quy định:

– “nhựa” là vật liệu bao gồm polymer như được định nghĩa trong Điều 3 (5) của Quy định (EC) số 1907/2006, trong đó phụ gia hoặc các chất khác có thể đã được thêm vào và có thể hoạt động như một thành phần cấu trúc chính của các sản phẩm cuối cùng, ngoại trừ các polyme tự nhiên chưa được biến đổi hóa học;

– “ống hút nhựa sử dụng một lần” có nghĩa là ống hút được làm hoàn toàn hoặc một phần từ nhựa và không được thiết kế hoặc dự định sử dụng lại;

– “Que khuấy đồ uống bằng nhựa” có nghĩa là một dụng cụ được làm một phần hoặc toàn bộ bằng nhựa được thiết kế và dùng để khuấy đồ uống;

– “Tăm bông dùng một lần bằng nhựa” có nghĩa là một vật phẩm bao gồm một thanh được làm hoàn toàn hoặc một phần bằng nhựa với bông quấn quanh một hoặc cả hai đầu và không được thiết kế hoặc dự định sử dụng lại;

– “ống hút nhựa kèm theo” có nghĩa là ống hút nhựa sử dụng một lần được gắn vào bao bì của sản phẩm đồ uống và được sử dụng để tiêu thụ đồ uống đó.

Lệnh cấm đối với việc cung cấp ống hút nhựa sử dụng một lần, trừ ống hút nhựa đi kèm và đối với việc cung cấp tăm bông dùng một lần, chỉ áp dụng cho việc cung cấp các sản phẩm đó cho người dùng cuối và phải chịu một số ngoại lệ nhất định. Việc cấm cung cấp ống hút nhựa kèm theo và que khuấy nước uống bằng nhựa áp dụng cho tất cả các nguồn cung của những sản phẩm được sản xuất trong quá trình kinh doanh.

Miễn trừ đối với việc cung cấp ống hút nhựa:

– Cung cấp thông qua các nhà thuốc đã đăng ký;

– Cung cấp thực phẩm hoặc đồ uống để tiêu thụ ngay lập tức, với điều kiện ống hút được giữ ở nơi mà khách hàng không nhìn thấy và chúng chỉ được cung cấp theo yêu cầu;

– Ống hút được sử dụng cho các thiết bị y tế và mục đích y tế;

– Ống hút dùng để đóng gói;

– Ống hút được cung cấp trong cơ sở chăm sóc, cơ sở cho việc cung cấp đầu năm, trường học và nhà tù.

Miễn trừ đối với việc cung cấp tăm bông:

– Tăm bông được sử dụng cho các thiết bị y tế và mục đích y tế;

– Tăm bông được sử dụng cho mục đích pháp y và khoa học.

Vi phạm các điều cấm này là một hành vi phạm tội. Dự thảo quy định cũng trao quyền cho các cơ quan thực thi áp dụng các biện pháp trừng phạt dân sự, bao gồm cả hình phạt tiền và thông báo chấm dứt, như là một biện pháp thay thế cho truy tố hình sự.

Dự thảo quy định chỉ áp dụng trong thị trường Anh.

Lệnh cấm được đề xuất thực hiện vào tháng 4 năm 2020. Việc cấm ống hút nhựa kèm theo được đề xuất cho tháng 7 năm 2021.

Vương quốc Anh đang đề xuất đưa ra các quy định để cấm cung cấp một số mặt hàng nhựa cho người dùng cuối với lý do chúng gây hại cho môi trường. Những mặt hàng này bao gồm ống hút nhựa, que khuấy uống nước bằng nhựa và tăm bông. Các đánh giá tác động được đệ trình với tham vấn cộng đồng về đề xuất chính sách này ước tính rằng ở Anh, 4,7 tỷ ống hút nhựa, 316 triệu que khuấy nhựa và 1,8 tỷ tăm bông thân nhựa được sử dụng hàng năm. Ống hút nhựa, que khuấy nước uống và tăm bông thường không được tái chế hoặc tái sử dụng, gây ra nhiều tác hại môi trường đặc biệt là khi chúng bị vứt bỏ không đúng cách, bao gồm gây hại cho động vật biển và ô nhiễm thị giác. Ngay cả khi được xử lý đúng cách, những vật dụng bằng nhựa này có thể bị đốt cháy tạo ra khí thải carbon. Đây là những ngoại ứng tiêu cực vì chúng có ảnh hưởng trên toàn xã hội và không được tính trong giá thị trường của ống hút nhựa, que khuấy và tăm bông. Các nhà cung cấp các mặt hàng này không có động cơ để trang trải chi phí bên ngoài. Cần có sự can thiệp để chuyển thị trường sang các sản phẩm thay thế không có nhựa đã tồn tại và phân hủy nhanh hơn nhiều. Ống hút nhựa, que khuấy và tăm bông cũng được bao gồm trong Chỉ thị nhựa sử dụng một lần (SUP) của Liên minh Châu Âu, đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và giảm tác động của một số sản phẩm đối với môi trường. Điều này bao gồm các biện pháp cấm đặt trên thị trường ống hút nhựa sử dụng một lần, que khuấy nước uống và tăm bông từ tháng 7 năm 2021; Quy định này cũng được ban hành để bảo vệ môi trường.

Quy định dự kiến thông qua vào Tháng 3/2020 và có hiệu lực thi hành từ tháng 4/2020 đối với ống hút.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ấn Độ về sản phẩm thép

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/120 ngày 28/01/2020, Ấn Độ thông báo ban hành Quy định thứ tư về Thép và Sản phẩm thép (Kiểm soát chất lượng), 2019 (2 trang, bằng tiếng Anh)

Quy định này tìm cách đảm bảo sự phù hợp với các sản phẩm thép và thép, được liệt kê trong Bảng 1, theo Tiêu chuẩn Ấn Độ được chỉ định. Quy định bắt buộc tất cả các nhà sản xuất ở Ấn Độ và tất cả các nhà sản xuất nước ngoài, những người có ý định xuất khẩu sang Ấn Độ, các sản phẩm thép và thép, như được nêu trong bảng 1 của quy định, phải có được giấy phép hợp lệ từ Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ, để sử dụng Dấu tiêu chuẩn (Standard Mark), trước khi bắt đầu sản xuất thường xuyên các mặt hàng đó. Hơn nữa, không ai được sản xuất, lưu trữ để bán, bán, phân phối hoặc nhập khẩu bất kỳ sản phẩm thép và thép nào được đưa ra trong lộ trình theo quy định, mà không tuân thủ các tiêu chuẩn quy định và không mang nhãn hiệu tiêu chuẩn của Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ. Không ai được sử dụng hoặc áp dụng hoặc có ý định sử dụng hoặc áp dụng dưới bất kỳ hình thức nào trong sản xuất, phân phối, bán, cho thuê, cho thuê hoặc triển lãm hoặc chào bán bất kỳ sản phẩm thép và thép nào được nêu trong bảng 1 hoặc trong tiêu đề của bất kỳ bằng sáng chế hoặc trong bất kỳ nhãn hiệu hoặc thiết kế thương mại nào, Dấu tiêu chuẩn hoặc bất kỳ hàng nhái màu sắc nào, ngoại trừ theo giấy phép hợp lệ từ Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ.

Mục đích ban hành quy định này nhằm nâng cao chất lượng thép và các sản phẩm thép vì lợi ích chung để đảm bảo an toàn cho cơ sở hạ tầng/nhà ở/hàng kỹ thuật trong nước và bảo vệ sức khỏe & sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Nhật Bản về phân bón

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/647 ngày 06/01/2020, Nhật Bản thông báo ban hành Dự thảo Sửa đổi Quy định về tiêu chuẩn và các nguyên tắc áp dụng đối với phân bón.

Căn cứ trên tiến bộ kỹ thuật và nhu cầu gần đây đối với phân bón, Pháp lệnh thực thi Đạo luật điều chỉnh phân bón và các quy tắc khác được sửa đổi như sau:

  1. Dỡ bỏ lệnh cấm sử dụng phân bón đối với các nguyên liệu có nguồn gốc từ cừu và dê

Là một phần của lệnh cấm thức ăn liên quan đến BSE, các nguyên liệu có nguồn gốc từ cừu và dê đã bị cấm sử dụng để sản xuất phân bón. Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro do Ủy ban An toàn Thực phẩm Nhật Bản thực hiện, các nguyên liệu có nguồn gốc từ cừu và dê được phép sử dụng để sản xuất phân bón theo điều kiện thích hợp để quản lý BSE được quy định trong các quy tắc hành chính liên quan đến Đạo luật Quản lý Phân bón.

  1. Sử dụng phân bón dạng hạt làm bằng vỏ hóa thạch và vỏ sò để chuẩn bị phân bón hỗn hợp

Các nhà sản xuất phân bón đã thông báo cho Bộ Nông nghiệp Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản ((MAFF) về kế hoạch sản xuất của họ được phép sử dụng phân bón dạng hạt làm từ vỏ hóa thạch hoặc vỏ sò được sử dụng làm nguyên liệu để chuẩn bị phân bón hỗn hợp.

  1. Hướng dẫn kiểm tra mới để phân tích định tính hàm lượng mang đối với chất dinh dưỡng

Hướng dẫn phân tích định tính hàm lượng đối với chất dinh dưỡng để đăng ký phân bón phải được thực hiện theo hướng dẫn thử nghiệm do Trung tâm kiểm định vật liệu nông nghiệp và thực phẩm chỉnh sửa.

  1. Sửa đổi quy tắc ghi nhãn liên quan đến phân bón có nguồn gốc từ chăn nuôi

Sẽ có một sự thay đổi trong định dạng nhãn cho phân bón có chứa nguyên liệu có nguồn gốc từ vật nuôi để chỉ ra các loài vật nuôi mà nguyên liệu có nguồn gốc từ đó. Không bắt buộc phải gắn nhãn để chỉ ra rằng quy trình sản xuất phân bón đã được xác nhận bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản.

Mục đích sửa đổi Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn của con người; Tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất.

Dự kiến thông qua: Tháng 2/2020

Dự kiến có hiệu lực: Tháng 4/2020

Thông báo của Nhật Bản về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/648 ngày 15/01/2020, Nhật Bản thông báo ban hành Tóm tắt về việc sửa đổi Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm liên quan đến ghi nhãn thực phẩm có chứa các thành phần hoặc chất được chỉ định cần thận trọng, ghi nhãn sữa trâu thô, ghi nhãn trọng lượng tịnh của dưa chua nông sản, ghi nhãn làm sạch/đánh bóng gạo và công bố hàm lượng dinh dưỡng.

(1) Ghi nhãn thực phẩm có chứa thành phần được chỉ định hoặc các chất cần thận trọng

Căn cứ vào Điều 8 của Đạo luật vệ sinh thực phẩm sửa đổi (Đạo luật số 233 năm 1947) dựa trên Đạo luật sửa đổi một phần Đạo luật vệ sinh thực phẩm (Đạo luật số 46 năm 2018), Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm sẽ được sửa đổi một phần để thực phẩm được sửa đổi có chứa các thành phần được chỉ định hoặc các chất yêu cầu thận trọng phải được dán nhãn với các thành phần hoặc chất được chỉ định của chúng để đảm bảo sự lựa chọn an toàn và tự chủ hoặc hợp lý của người tiêu dùng.

(2) Ghi nhãn sữa trâu thô

Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm sẽ được sửa đổi một phần để thêm sữa trâu thô vào danh mục “Sữa” theo sửa đổi của Pháp lệnh cấp Bộ liên quan đến Tiêu chuẩn thành phần cho sữa và các sản phẩm từ sữa (Pháp lệnh của Bộ Y tế và Phúc lợi số 52 của 1951).

(3) Ghi nhãn trọng lượng tịnh của dưa chua nông sản

Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm sẽ được sửa đổi một phần theo sửa đổi các phương pháp đo lường của dưa muối nông sản theo Đạo luật đo lường (Đạo luật số 51 năm 1992) phản ánh tình hình thực tế của các sản phẩm đó.

(4) Ghi nhãn ngày đánh bóng/làm sạch gạo

Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm sẽ được sửa đổi một phần để giải quyết vấn đề hậu cần/bán hàng và chất thải do gạo không bán được có nhãn ngày làm sạch/đánh bóng cũ, được Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF) yêu cầu dựa trên thảo luận trong Cuộc họp về gạo của Nhóm Công tác về Hợp lý hóa Hậu cần của Gạo.

(5) Yêu cầu về hàm lượng chất dinh dưỡng

Hiện tại, các chất dinh dưỡng và năng lượng có thể được chỉ định là thấp khi chúng nhỏ hơn các giá trị tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm sẽ được sửa đổi một phần để có thể chỉ ra các chất dinh dưỡng và năng lượng thấp khi chúng bằng với các giá trị tiêu chuẩn theo quan điểm thực tế về phân phối và hài hòa quốc tế.

Mục đích sửa đổi nhằm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng để đảm bảo an toàn khi ăn Thực phẩm và bảo đảm cơ hội đưa ra lựa chọn Thực phẩm tự chủ và hợp lý.; Thông tin cho người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Nhật Bản về ghi nhãn bao bì

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/JPN/651 ngày 22/01/2020, Nhật Bản thông báo ban hành:(1) Pháp lệnh của Bộ trưởng về Tiêu chuẩn ghi nhãn lon nước giải khát bằng thép hoặc nhôm; (2) Pháp lệnh của Bộ trưởng về Tiêu chuẩn ghi nhãn của bao bì đựng đồ uống bằng Polyetylen terephthalate hoặc hộp đựng nước sốt theo quy định (3 trang, bằng tiếng Anh).

Luật Khuyến khích sử dụng tài nguyên hiệu quả đòi hỏi các nhà sản xuất phải bao gồm các nhãn hiệu cụ thể cho thấy các hoạt động phân loại chất thải trên các sản phẩm được chỉ định để thúc đẩy việc sử dụng các tài nguyên có thể tái chế. Đối với lon nước giải khát bằng thép hoặc nhôm và bằng polyetylen terephthalate hoặc hộp đựng nước sốt được chỉ định, một lượng thời gian đáng kể đã trôi qua kể từ khi ban hành pháp lệnh của bộ trưởng và thực hành phân loại chất thải. Do đó, những sửa đổi sau đây sẽ được thực hiện để a) cho phép các nhà sản xuất bảo đảm không gian nhãn và b) thúc đẩy các nỗ lực hơn nữa để giảm lượng chất thải và khuyến khích tái chế vật liệu. Trong khi đó, kích thước ghi nhãn thực phẩm cần thiết đã giảm vì các hộp đựng đồ uống nhỏ hơn đã trở nên phổ biến và lượng thông tin an toàn thực phẩm cần phải được hiển thị đã tăng lên.

(1) Giảm kích thước tối thiểu của các dấu hiệu được in hoặc dán yêu cầu đối với lon nước giải khát bằng thép hoặc nhôm và bằng polyetylen terephthalate hoặc hộp đựng nước sốt được chỉ định.

(2) Đối với bao bì đựng đồ uống bằng polyetylen terephthalate hoặc hộp đựng nước sốt cụ thể, các dấu hiệu được in hoặc dán cho các thùng chứa riêng lẻ (không bao gồm các dấu hiệu khắc mà không có sửa đổi nào được thực hiện) có thể được bỏ qua khi có các hộp đựng bên ngoài và bao bì hiển thị các ký hiệu theo yêu cầu.

Mục đích ban hành các quy định này nhằm đảm bảo khuyến khích hoạt động tái chế và sử dụng các tài nguyên có thể tái chế.; và các mục đích khác.

Dự kiến có hiệu lực: 01/4/2020

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hàn Quốc về ghi nhãn thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/873 ngày 10/01/2020, Hàn Quốc thông báo ban hành Đề xuất thiết lập “Quy định về yêu cầu sức khỏe đối với ghi nhãn thực phẩm và trong quảng cáo” (18 trang, bằng tiếng Hàn).

Đề xuất thiết lập quy định về yêu cầu sức khỏe đối với nhãn thực phẩm và trong quảng cáo là cho phép công bố về sức khỏe đối với thực phẩm được chứng minh là có hiệu quả với các bằng chứng khoa học đáng tin cậy và quy định các yêu cầu cũng như phạm vi yêu cầu sức khỏe được phép.

Mục đích ban hành Quy định này nhằm thông tin cho người tiêu dùng và đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hàn Quốc về thực phẩm cho trẻ em

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/874 ngày 15/01/2020, Hàn Quốc thông báo ban hành Đề xuất sửa đổi các quy tắc thực thi Luật ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm (9 trang, bằng tiếng Hàn)

Đề xuất sửa đổi các quy tắc thực thi thực thi Luật ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm là: thiết lập Giá trị tham chiếu dinh dưỡng (NRVs) cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; để hài hòa việc ghi nhãn “hàm lượng caffeine cao” trên thực phẩm chức năng cho sức khỏe cùng với các thực phẩm khác.

Mục đích ban hành Quy định này nhằm thông tin cho người tiêu dùng và đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Lithuania về trái cây sấy khô

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/LTU/36 ngày 16/01/2020, Lithuania thông báo ban hành Dự thảo Sắc lệnh của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Cộng hòa Lithuania sửa đổi Sắc lệnh số 3D-155 ngày 19 tháng 4 năm 2006 về Phê duyệt các Yêu cầu Chất lượng đối với Trái cây sấy khô. (21 trang, tiếng Lithuania)

Sắc lệnh đưa ra các yêu cầu về chất lượng và trình bày thương mại của trái cây sấy khô. Các quy định áp dụng bắt buộc đối với tất cả các công ty của Cộng hòa Lithuania tham gia vào việc sản xuất, nhập khẩu và bán các sản phẩm được quy định trong Sắc lệnh này. Sắc lệnh cũng đưa ra một điều khoản công nhận lẫn nhau, đó là “Điều khoản thị trường đơn lẻ” được ban hành ngày 19/12/2017 Quy định cuối cùng của Ủy ban Truyền thông COM (2017) 787. Các yêu cầu của dự án áp dụng cho trái cây sấy khô: táo, lê, dứa, chuối, xoài, đào, mơ, mận, chà là, quả sung, nho, anh đào, làm từ trái cây tươi của các loài thiết kế và dự định tiêu thụ trực tiếp (không cần thêm xử lý nhiệt). Sắc lệnh xác định khái niệm trái cây sấy khô và đưa ra các yêu cầu chất lượng cụ thể cho từng loại trái cây sấy khô. Sắc lệnh đặt ra các yêu cầu kỹthuật cho việc chuẩn bị nguyên liệu thô, các yêu cầu ghi nhãn cho trái cây sấy khô và mô tả các phương pháp nghiên cứu nhất định.

Sắc lệnh được xây dựng để mở rộng phạm vi của trái cây sấy khô. Sắc lệnh đã làm rõ định nghĩa của trái cây khô. Các chỉ số chất lượng cho trái cây sấy khô mới được cung cấp và các chỉ số chất lượng cho trái cây sấy khô, được đề cập trong Yêu cầu chất lượng trước đây, đã được sửa đổi. Sắc lệnh cũng đã thực hiện các thay đổi khác, bao gồm cả những thay đổi kỹ thuật, để đảm bảo tính toàn vẹn của pháp luật.

Dự kiến có hiệu lực: ngày 1 tháng 5 năm 2020.

Hạn góp ý cuối cùng 60 ngày kể từ ngày thông báo.

(Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

 

II. THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Quy định về nguyên tắc điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng muối và trứng gia cầm năm 2020

*******

Ngày 22/01/2020, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 02/2020/TT-BCT quy định về nguyên tắc điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng muối và trứng gia cầm năm 2020, cụ thể như sau:

  1. Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2020:

– Trứng tương ứng 57.940 tá.

– Muối tương ứng 110.000 tấn.

  1. Nguyên tắc, đối tượng và thời điểm phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu, đáng chú ý là nguyên tắc đối với đối đối tượng phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu là:

– Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu muối được phân giao cho thương nhân trực tiếp sử dụng làm nguyên liệu sản xuất hóa chất và làm nguyên liệu sản xuất thuốc, sản phẩm y tế.

– Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu trứng gia cầm được phân giao cho thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/02/2020 đến hết ngày 31/12/2020.

Quy định việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan theo Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương

*******

Ngày 22/01/2020, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 03/2020/TT-BCT điều chỉnh việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu (mã HS 24.01) theo hạn ngạch thuế quan cam kết tại Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình dương (Hiệp định CPTPP).

Cụ thể, lượng hạn ngạch thuế quan thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu hàng năm cam kết tại Hiệp định CPTPP được quy định rõ theo Phụ lục I Thông tư này.

Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo Hiệp định CPTPP không tính vào lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) do Bộ Công Thương công bố hàng năm.

Đối tượng phân giao hạn ngạch thuế quan là các doanh nghiệp thương mại nhà nước thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2018/TT-BCT.

Phương thức phân giao hạn ngạch thuế quan được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2018/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/02/2020.

 

Hướng dẫn đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp

*******

Ngày 10/12/2019, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng đã ký ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN hướng dẫn đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất.

Thông tư này hướng dẫn nội dung, quy trình đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, đánh giá trình độ và năng lực công nghệ các ngành, lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam, bao gồm: công nghiệp chế biến, chế tạo, lắp ráp và các ngành công nghiệp hỗ trợ.

Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, trình độ và năng lực công nghệ sản xuất các ngành, lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam làm cơ sở để nắm bắt được hiện trạng công nghệ sản xuất và khả năng khai thác và làm chủ, đổi mới, nghiên cứu và phát triển công nghệ, từ đó đề xuất chính xác, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực.

Về “Nguyên tắc đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất”, thông tư quy định rõ:

– Trình độ và năng lực công nghệ sản xuất được đánh giá thông qua việc phân tích, đánh giá tổng hợp năm nhóm yếu tố thành phần bao gồm: nhóm hiện trạng công nghệ, thiết bị sản xuất (nhóm T); nhóm hiệu quả khai thác công nghệ (nhóm E); nhóm năng lực tổ chức, quản lý (nhóm O); nhóm năng lực nghiên cứu phát triển (nhóm R) và nhóm năng lực đổi mới sáng tạo (nhóm I), kết hợp với kết quả đánh giá hệ số đồng bộ về trình độ và năng lực công nghệ sản xuất.

– Đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất sử dụng phương pháp định lượng theo thang điểm chung 100 điểm cho tổng số 26 tiêu chí để đưa về cùng một mặt bằng đánh giá, trong đó nhóm T tối đa 30 điểm cho 7 tiêu chí, nhóm E tối đa 20 điểm cho 5 tiêu chí, nhóm O tối đa 19 điểm cho 5 tiêu chí, nhóm R tối đa 17 điểm cho 5 tiêu chí, nhóm I tối đa 14 điểm cho 4 tiêu chí. Căn cứ vào tổng số điểm đạt được của các tiêu chí và hệ số đồng bộ về trình độ và năng lực công nghệ sản xuất để phân loại trình độ và năng lực công nghệ sản xuất. Thông tin, số liệu dùng để xác định điểm của các tiêu chí được điều tra, thu thập tại các doanh nghiệp. Bộ mẫu phiếu điều tra quy định tại Phụ lục I của Thông tư này.

– Hệ số đồng bộ về trình độ và năng lực công nghệ sản xuất được tính toán dựa trên số điểm đạt được của các nhóm T, E, O, R, I.

– Điểm của các tiêu chí 4, 5, 6 tại Điều 4 và tiêu chí 8 tại Điều 5 của Thông tư này được xác định dựa trên chuẩn so sánh của mỗi ngành theo quy định tại Phụ lục II của Thông tư này. Trên cơ sở đề xuất của các Bộ, ngành có liên quan, Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, điều chỉnh chuẩn so sánh cho phù hợp với thực tế phát triển kinh tế – xã hội theo từng thời kỳ.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 25/01/2020 và thay thế Thông tư số 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất.

Sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định về lệ phí môn bài

*******

Ngày 24/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 22/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài.

Theo Nghị định 22/2020/NĐ-CP, nội dung tại khoản 6 và khoản 7 Điều 3 đã được sửa đổi phù hợp với tình hình thực tiễn về đối tượng được miễn lệ phí môn bài.

Nghị định cũng bổ sung thêm quy định miễn lệ phí môn bài trong năm đầu thành lập hoặc ra hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với Tổ chức thành lập mới, Hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân lần đầu ra hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời những doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh (theo quy định tại Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) cũng được miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Các cơ sở giáo dục phổ thông công lập và cơ sở giáo dục mầm non công lập cũng được bổ sung vào đối tượng được miễn lệ phí môn bài.

Về thời hạn nộp lệ phí môn bài, Nghị định đã quy định cụ thể với hai mốc thời gian cho các đối tượng là thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 1 và 30 tháng 7 hàng năm.

(Nguyễn Thị Thắng)

 

III. THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Các yêu cầu về bao gói và nhãn mác của Thụy Điển

*******

Hiện nay, các quy định về nhãn mác của Thụy Điển phù hợp với các quy định chung của EU. Thụy Điển không yêu cầu hàng nhập khẩu ghi tên nước xuất xứ trên nhãn hàng hoá. Tuy nhiên, các hàng hoá sai tên xuất xứ đều bị cấm.

  1. Quy định về nhãn mác

Đối với một số mặt hàng, ví dụ dược phẩm, hóa chất, hàng thực phẩm, cần phải tuân thủ các quy định và yêu cầu ghi nhãn mác đặc biệt. 

Thụy Điển có các quy định về dán nhãn, vệ sinh và y tế rất nghiêm ngặt cũng như các yêu cầu phức tạp để giám sát chất lượng hàng hoá. Ví dụ: Một gói hàng thực phẩm bán lẻ phải ghi tên nhà sản xuất, nhà đóng gói và nhà nhập khẩu, tên thương mại của sản phẩm, trọng lượng hoặc khối lượng tịnh, các thành phần theo yêu cầu giảm dần về trọng lượng, ngày sử dụng sau cùng, hướng dẫn bảo quản nếu sản phẩm dễ hư hỏng, hoặc chỉ định giữ xa tầm tay trẻ em. Các thông tin trên được mô tả bằng tiếng Thụy Điển và nhà nhập khẩu có thể hỗ trợ các công ty trong việc sắp xếp hợp lý các thông tin trên nhãn mác.

Một số quy định về nhãn mác đối với một số sản phẩm cụ thể như sau: 

+ Nhãn của thực phẩm chứa đường phải nêu rõ tên loại đường, bao gồm đường Lactoza, đường hoá học, đường Mantoza, đường hoa quả, và đường mía

+ Thực phẩm chứa đường Sacarin và đường hoá học phải được ghi nhãn theo quy định riêng

+ Nhãn mác của thực phẩm đóng gói có thời hạn sử dụng phải nêu rõ ngày hết hạn

+ Nhãn mác của thực phẩm đông lạnh phải nêu rõ chỉ dẫn bảo quản và sử dụng

+ Nhãn mác của sản phẩm mật ong phải nêu tên nước xuất xứ

+ Nhãn mác của sản phẩm pho mát phải nêu tên nước xuất xứ và hàm lượng chất béo

Các hoá chất độc hại cần phải tuân thủ quy định riêng biệt về ghi nhãn mác. Nhãn mác bên ngoài container đựng hoá chất độc hại phải nêu tên và tính năng của sản phẩm, tên và địa chỉ nhà sản xuất và nhà nhập khẩu, và chỉ thị rõ những chất độc hại này phải được giữ xa trẻ em

Thuốc được ghi nhãn theo phương thức riêng theo quy định của Bộ Y tế

Thiết bị bảo quản đông lạnh nội địa phải được ghi nhãn với đầy đủ các chi tiết tiêu thụ năng lượng.

  1. Quy định về bao gói

Thụy Điển không đưa ra quy định đặc biệt nào về việc bao gói sản phẩm. Tuy nhiên, Thụy Điển không khuyến khích sử dụng cỏ khô, rơm hoặc bao tải để bao gói hàng. Trong trường hợp sử dụng thì cần phải có giấy chứng nhận vệ sinh kèm theo.

Bên ngoài thùng đựng hàng nên có ký hiệu của người uỷ nhiệm, ký hiệu của cảng và được đánh số (tương ứng với danh mục hàng đóng gói) trừ khi hàng đã được nhận dạng theo một cách nào khác. Vận chuyển gói hàng vượt quá trọng lượng 1.000 tấn phải được đánh dấu trọng lượng tổng. 

Qui định về dán nhãn CE khi vào thị trường Thụy Điển

*******

Một số sản phẩm khi tiêu thụ tại thị trường Thụy Điển cũng như thị trường Châu Âu yêu cầu phải được dán nhãn CE.

CE được viết tắt từ cụm từ “Conformité Européenne” có tên gọi đầy đủ và chính thức là CE Marking. Chứng nhận CE Marking cho biết sản  phẩm tuân theo pháp luật của EU và cho phép sản phẩm đươc lưu thông tự do trong thị trường Châu Âu.Thông qua việc gắn dấu CE lên sản phẩm, nhà sản xuất tuyên bố dựa trên trách nhiệm của họ rằng sản phẩm đó đáp ứng mọi yêu cầu về mặt pháp lý để có được tiêu chuẩn CE Marking.

Chứng nhận CE cũng được coi như “hộ chiếu thương mại” để sản phẩm vào thị trường EU. Hiện nay, rất nhiều nhà sản xuất bị hải quan EU tịch thu như là hàng xấu hoặc bị trả lại vì không có CE Marking. 

Các sản phẩm yêu cầu phải dán nhãn CE:

+ Máy móc công nghiệp

+ Thiết bị điện và điện tử bao gồm AC 50V~1000V, DC 75V~1500V

+ Thiết bị điện và điện tử

+ Thiết bị y tế

+ Thiết bị y tế cấy dưới da

+ Các thiết bị y tế ống nghiệm 

+ Thang máy

+ Sản phẩm chống cháy nổ

+ Đồ chơi trẻ em 

+ Thiết bị áp lực đơn

+ Thiết bị khí đốt

+ Thiết bị đầu cuối, truyền thông có dây và không dây

+ Thiết bị cân không tự động

+ Thiết bị bảo vệ cá nhân

+ Nồi hơi nước nóng

+ Vật liệu xây dựng

+ Cáp dùng cho giao thông vận tải cá nhân 

+ Thiết bị áp lực

+ Các loại thuốc nổ dân dụng

+ Du thuyền

+ Dụng cụ đo lường

+ Thùng để đóng gói

+ Pháo hoa

Việc dán nhãn CE lên sản phẩm cũng được EU quy định nghiêm ngặt. Với mỗi sản phẩm khác nhau quy định về việc dán nhãn cũng sẽ khác nhau. Một số quy định chung như sau: 

– Kích thước của biểu tượng dấu “CE” khi tăng hay giảm thì tỷ lệ vẫn phải được giữ nguyên.

– Dấu “CE” được đặt theo chiều thẳng đứng và kích thước không được nhỏ hơn 5mm.

– Dấu “CE” phải đặt ở vị trí không bị các logo khác che khuất.

 Viện Tiêu chuẩn Thụy Điển là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn.

Quy định của Thụy Điển về tiêu chuẩn đối với hàng hóa dịch vụ

*******

Muốn bán hàng vào các siêu thị ở Thụy Điển, trước hết phải sản xuất được hàng thành phẩm có chất lượng cao, bao gói theo yêu cầu của các tập đoàn siêu thị; phải bảo đảm cung cấp hàng đều đặn và ổn định về số lượng và chất lượng với giá cạnh tranh.

Người tiêu dùng Thụy Điển coi trọng chất lượng với giá cả cạnh tranh. Họ quen với các thương hiệu lớn truyền thống. Hàng thành phẩm chất lượng cao, số lượng lớn và ổn định thì nên bán qua các tập đoàn siêu thị; hàng có số lượng không lớn và đa dạng thì nên bán qua đại lý hoặc các công ty nhỏ và vừa; hàng ở dạng nguyên liệu thô thì nên bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến.

Để có thể kiểm tra những yêu cầu về hàng hóa có thể tham khảo website www.opentradegate.se của Thụy Điển nhằm giúp đỡ các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển. Thụy Điển là một thành viên của EU do đó hàng hóa muốn đạt tiêu chuẩn của Thụy Điển trước hết là phải đạt tiêu chuẩn của EU.

Nhìn chung, có thể nói rằng thị trường EU có nhu cầu rất cao về chất lượng sản phẩm, các quy định tập trung đến các nội dung sau:

  1. Tiêu chuẩn hóa sản phẩm

Theo truyền thống, các tiêu chuẩn được sử dụng để mô tả chất lượng và tính năng của hàng hóa dịch vụ và chúng rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường toàn cầu. Hầu hết các tiêu chuẩn điều được xây dựng theo yêu cầu của nền công nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới công nghệ thiết bị và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng các tiêu chuẩn này.

Tiêu chuẩn hóa không chỉ quan trọng trong lĩnh vực sức khỏe, an toàn còn trong lĩnh vực quản lý chất lượng, sản xuất mang tính môi trường trách nhiệm xã hội. Việc tiêu chuẩn hóa sẽ tạo ra các nhãn hiệu hàng hóa, các giấy chứng nhận nhằm chứng minh cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn mà các doanh nghiệp áp dụng, tạo điều kiện tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.

  1. Quản lý chất lượng sản phẩm

Đây là tiêu chuẩn quan trọng để quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Tiêu chuẩn quản lý chất lượng liên quan đến phương thức quản lý. Tiêu chuẩn này khác với các tiêu chuẩn hàng hóa, nhãn hiệu hành hóa có liên quan đến sản phẩm hay quá trình sản xuất. Đăng ký tiêu chuẩn quản lý chất lượng là quá trình tự nguyện, tiêu chuẩn này sẽ giúp cho người tiêu dùng có cách nhìn nhận về doanh nghiệp trên thị trường, đặc biệt là khi doanh nghiệp được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn quản lý được quốc tế công nhận. Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quan trọng nhất thuộc nhóm tiêu chuẩn ISO 9000. Các nhà sản xuất được cấp chứng chỉ ISO 9001 hay ISO 9002 thực sự đã sở hữu một tài sản quan trọng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một đặc điểm hỗ trợ bán hàng cơ bản trong kinh doanh ở thị trường EU vốn rất cạnh tranh, đặc điểm này cũng giúp tăng thêm lòng tin của khách hàng.

  1. Về sức khỏe và an toàn thực phẩm

Đối với các sản phẩm công nghiệp chế tạo cần phải đạt nhãn CE (European Conformity) là một nhãn bắt buộc đối với nhiều sản phẩm công nghiệp. Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối các nhà sản xuất nhằm chỉ đưa ra những sản phẩm an toàn ở thị trường EU. Nhãn CE được xem là một giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân… Trên thị trường EU, nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm đáp ứng các nhu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng.

Đối với các sản phẩm thực phẩm thì tiêu chuẩn HACCP (the Hazard Analysis Critical Control Point system) được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm, điều này sẽ xác định rằng các công ty thực phẩm xác định từng khía cạnh ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.

  1. Về môi trường

Nhiều quốc gia Châu Âu thỏa thuận mang tính tình nguyện và mang tính pháp lý được thông qua giữa Chính phủ và các nhà sản xuất. Các thỏa thuận không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà được áp dụng cho bao bì của sản phẩm. Các nhà xuất khẩu của Việt Nam phải tuân thủ những quy định về môi trường để được xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môi trường của sản phẩm mình, của quá trình sản xuất và đóng gói. Do đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam phải hiểu rằng việc tuân thủ các quy định về sản phẩm là rất cần thiết, tuy nhiên việc đầu tiên là đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng là điều quan trọng trong thành công tại thị trường EU.

Bên cạnh, ngoài các tiêu chí quan trọng về chất lượng, vệ sinh, an toàn và môi trường đã đề cập ở trên, các vấn đề xã hội ngày càng có tầm quan trọng. Ngày nay có nhiều người dân Châu Âu cho rằng các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về đạo đức đối với nhân viên của họ nói riêng và toàn xã hội nói chung. Người tiêu dùng ngày càng coi trọng “đạo đức kinh doanh” như một tiêu chí để lựa chọn và đàm phán trong kinh doanh.

 (Lê Thành Kông)

IV. TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Biện pháp kiểm dịch động thực vật là gì?

Trả lời: Trong thương mại quốc tế, quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nào được coi là đã sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa).
Trong nhiều trường hợp, các nước nhập khẩu cần biết xuất xứ hàng hóa nhập khẩu để xác định quy chế đặc biệt áp dụng cho hàng hóa đó (ví dụ ưu đãi thuế quan, thuế chống bán phá giá, hạn ngạch…)

Trong WTO, biện pháp kiểm dịch động thực vật (Sanitary and Phytosanitary Measure – sau đây viết tắt là biện pháp SPS) được hiểu là tất cả các quy định, điều kiện, yêu cầu bắt buộc có tác động đến thương mại quốc tế nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc bảo đảm an toàn thực phẩm và/hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của các dịch bệnh có nguồn gốc từ động thực vật.

Hình thức của các biện pháp SPS có thể rất đa dạng (ví dụ, đó có thể là yêu cầu về chất lượng, về bao bì, về quy trình đóng gói, phương tiện và cách thức vận chuyển động thực vật, kiểm dịch, phương pháp lấy mẫu, thống kê…)

********

Hỏi: Tại sao WTO quy định về các biện pháp SPS?

Trả lời: Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ con người, vật nuôi và động, thực vật, mỗi nước thành viên WTO đều ban hành một hệ thống các biện pháp SPS tại lãnh thổ nước mình. Đây là điều là chính đáng và cần thiết.

Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp các biện pháp này đã bị lạm dụng, gây ra cản trở bất hợp lý cho thương mại quốc tế (ví dụ đặt điều kiện, tiêu chuẩn quá cao khiến hàng hoá nước ngoài khó có thể thâm nhập thị trường nội địa).

Việc thông qua Hiệp định về các Biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO (Hiệp định SPS) là nhằm tạo khung pháp lý chung cho vấn đề này. Hiệp định đưa các nguyên tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ khi ban hành và áp dụng các biện pháp SPS.

Một số biện pháp không phải là “SPS”:

+ Lệnh cấm sản xuất, nhập khẩu hay lưu hành các sản phẩm có chứa chất amiăng: không phải là biện pháp SPS vì nó nhằm mục tiêu bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người khỏi hoá chất công nghiệp độc hại (không phải nguy cơ từ động thực vật hay thực phẩm);

+ Quy định “buộc phải ghi rõ “sản phẩm biến đổi gen” trên nhãn hàng hoá đối với hàng hoá làm từ sản phẩm biến đổi gen”: không phải là biện pháp SPS vì nó không nhằm bảo vệ sức khoẻ hay tính mạng con người mà chỉ phục vụ mục đích thông tin cho người tiêu dùng.

********

Hỏi: Các biện pháp SPS phải tuân thủ các nguyên tắc gì?

Trả lời: Hiệp định SPS quy định các nước thành viên khi ban hành và áp dụng các biện pháp SPS phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Chỉ được áp dụng ở mức cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật, thực vật và phải căn cứ vào các nguyên tắc khoa học (trừ một số ngoại lệ, ví dụ dịch bệnh khẩn cấp);

+ Không tạo ra sự phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không có căn cứ hoặc gây ra cản trở trá hình đối với thương mại;

+ Phải dựa vào các tiêu chuẩn, hướng dẫn, khuyến nghị quốc tế, nếu có;

+ Khuyến khích việc hài hoà hoá các biện pháp SPS giữa các nước.

Một biện pháp SPS không tuân thủ một trong các nguyên tắc trên có thể là vi phạm WTO và có thể bị buộc phải huỷ bỏ. Vì vậy, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý đến các nguyên tắc này để nhận biết và kịp thời phát hiện các trường hợp biện pháp SPS vi phạm WTO để có hình thức tự khiếu nại, khiếu kiện hoặc thông báo cho Chính phủ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

********

Hỏi: Phân biệt các biện pháp SPS với các biện pháp TBT như thế nào?

Trả lời: Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các biện pháp SPS, các nước còn duy trì nhóm các biện pháp kỹ thuật (TBT). Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này.

Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho mỗi nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các nguyên tắc khác nhau).

Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:

+ Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh;

+ Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…).

Việc phân biệt khi nào một yêu cầu nhất định đối với hàng hoá là biện pháp kỹ thuật hay biện pháp vệ sinh dịch tễ là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của một hệ thống các nguyên tắc và quy định khác nhau (và doanh nghiệp
phải biết để tuân thủ đúng).

Một số ví dụ để phân biệt “Biện pháp TBT” và “Biện pháp SPS”.

Ví dụ 1: Các quy định về thuốc sâu

+ Quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia súc nhằm bảo vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp SPS;

+ Quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp TBT.

Ví dụ 2: Các quy định về bao bì sản phẩm

+ Quy định về hun trùng hoặc các biện pháp xử lý khác đối với bao bì sản phẩm (tẩy uế nhằm tránh lây lan dịch bệnh): Biện pháp SPS;

+ Quy định về kích thước, kiểu chữ in, các loại thông tin về thành phần, loại hàng trên bao bì: Biện pháp TBT

 ********

Hỏi: Làm thế nào để biết một biện pháp SPS vượt quá mức cần thiết và vi phạm WTO?

Trả lời: Quan điểm chung là tất cả các biện pháp SPS mà các nước áp dụng đều đương nhiên ở mức cần thiết. Vì thế, thường thì người ta căn cứ vào tiêu chí thứ hai (“dựa trên các căn cứ khoa học”) để xác định một biện pháp SPS là cần thiết hay vượt quá mức cần thiết để bảo vệ sức khoẻ hoặc cuộc sống của con người, động thực vật.

(Nguyễn Thị Thắng)