Bản tin TBT Tháng 9/2020

Người viết: admin - Ngày viết: Friday, Oct 2, 2020 | 3:40 - Lượt xem: 74

TIN CẢNH BÁO

Thông báo của Argentina về thực phẩm từ sữa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ARG/400 ngày 17/7/2020, Argentina thông báo về Dự thảo Nghị quyết chung “Bộ luật Thực phẩm Argentina” – Chương VIII “Thực phẩm từ sữa” – Điều. 585 bis: Kem siêu thanh trùng (10 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha).

Dự thảo Nghị quyết chung, do Ủy ban Thực phẩm Quốc gia (CONAL) soạn thảo, kết hợp Điều 585 bis thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng và nhận dạng cho kem siêu tiệt trùng, cũng như định nghĩa, hoạt động xử lý, đóng gói và tiêu chí vi sinh vật, v.v…, để chuẩn hóa tiêu chí đối với việc tiếp thị loại kem đó.

Mục đích của Nghị quyết này nhằm thông tin cho người tiêu dùng, đảm bảo các yêu cầu ghi nhãn; Phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 45 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Canada về dược phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CAN/616 ngày 17/8/2020, Canada thông báo về Đề xuất mở rộng danh sách một số sản phẩm để phân phối dưới dạng hàng mẫu và danh sách một số loại thuốc không kê đơn không áp dụng các yêu cầu thử nghiệm (8 trang, có sẵn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp).

Bộ Y tế Canada dự định sửa đổi danh sách thuốc không kê đơn được quy định trong Thỏa thuận Canada-Hoa Kỳ-Mexico (CUSMA) đáp ứng các tiêu chí đã xác định, tức là để sử dụng tại chỗ, tác dụng tại chỗ và không tổng thể và đáp ứng khái niệm của một loại mỹ phẩm.

Các danh mục sản phẩm đáp ứng các tiêu chí này bao gồm: kem đánh răng, nước súc miệng, chất làm sạch da chống nhiễm trùng, kem chống nắng, sản phẩm trị gàu, sản phẩm chống hăm tã, sản phẩm chăm sóc da bằng thuốc, sản phẩm trị mụn và chất chống mồ hôi, cũng như sản phẩm trị nấm da chân và cổ họng viên ngậm.

Bộ Y tế Canada đang đề xuất rằng trong các danh mục sản phẩm đó, tất cả danh sách thuốc không kê đơn sẽ được mở rộng để bao gồm tất cả các thành phần đã được phê duyệt, tất cả số lượng đã được phê duyệt và tất cả các mục đích hoặc mục đích sử dụng đã được phê duyệt ngoại trừ một số sản phẩm chăm sóc da có thuốc. CUSMA bao gồm một số loại trừ liên quan đến các sản phẩm chăm sóc da có thuốc (tức là thuốc chống nấm, kháng vi-rút, thuốc kháng sinh, corticosteroid, thuốc chống phản ứng ruột và thuốc giảm đau) và những loại trừ này sẽ được duy trì cho đề xuất hiện tại.

Đề xuất của Bộ Y tế Canada cũng bao gồm các cập nhật và sửa đổi đối với danh sách một số loại thuốc không kê đơn mà không cần thử nghiệm bổ sung (tức là danh tính và xác nhận) khi nhập khẩu và có thể được vận chuyển trực tiếp đến các nhà bán lẻ hoặc nhà bán buôn. Bộ Y tế Canada dự định mở rộng danh sách một số loại thuốc không kê đơn không áp dụng các yêu cầu xét nghiệm. Do đó, mở rộng danh sách để bao gồm tất cả các thành phần đã được phê duyệt, tất cả số lượng đã được phê duyệt và tất cả các mục đích hoặc mục đích sử dụng đã được phê duyệt ngoại trừ một số sản phẩm chăm sóc da có thuốc.

Bộ Y tế Canada mong muốn tư vấn cho các bên liên quan quan tâm về một đề xuất được đăng trong thời gian tham vấn 60 ngày để tìm kiếm phản hồi và bổ sung tiềm năng cho các sản phẩm sẽ được thêm vào (các) Danh sách sửa đổi.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 10/10/2020.

Thông báo của Trung Quốc về mỹ phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHN/1453 ngày 19/8/2020, Trung Quốc thông báo Quy định về Giám sát và Quản lý Sản xuất và Phân phối Mỹ phẩm (Dự thảo để góp ý) (38 trang, bằng tiếng Trung Quốc).

Quy định về giám sát và quản lý sản xuất và phân phối mỹ phẩm có 8 phần 100 điều, gồm: hướng dẫn chung, quản lý giấy phép sản xuất, quản lý chất lượng sản xuất, quản lý chất lượng phân phối, quản lý bán hàng trực tuyến, giám sát và điều hành, trách nhiệm pháp lý và các tài liệu đính kèm.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Trung Quốc về mỹ phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/CHN/1454 ngày 19/8/2020, Trung Quốc thông báo Quy định Đăng ký mỹ phẩm (Dự thảo để góp ý) (24 trang, bằng tiếng Trung Quốc).

Các Điều khoản này nhằm đảm bảo tính an toàn của mỹ phẩm bằng cách quy định việc đăng ký và nộp hồ sơ mỹ phẩm và các thành phần mới.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Liên minh Châu Âu về sản phẩm diệt khuẩn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/730 ngày 3/8/2020, Liên minh Châu Âu thông báo về Dự thảo Quy chế được Ủy ban Ủy quyền sửa đổi Quy định (EU) số 528/2012 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu để đưa axit xitric như một chất hoạt động vào Phụ lục I (5 trang, bằng tiếng Anh; 2 trang, trong Tiếng Anh).

Dự thảo Quy định do Ủy ban ủy quyền này sửa đổi Quy định (EU) số 528/2012 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng để bao gồm axit xitric như một hoạt chất trong Phụ lục I của đó.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Bảo vệ môi trường; Sự hài hòa.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Liên minh Châu Âu về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/732 ngày 5/8/2020, Liên minh Châu Âu thông báo về Dự thảo Quy định do Ủy ban Ủy quyền sửa đổi Phụ lục III của Quy định (EU) số 2018/848 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu liên quan đến một số thông tin nhất định được cung cấp trên nhãn sản phẩm hữu cơ (4 trang, bằng tiếng Anh; 3 trang ( s), bằng tiếng Anh).

Dự thảo đề xuất sửa đổi một số điều khoản quy định trong Phụ lục III của Quy định (EU) số 2018/848 liên quan đến việc thu gom, đóng gói, vận chuyển và bảo quản sản phẩm liên quan đến thông tin được cung cấp về thức ăn hỗn hợp và hỗn hợp hạt thực vật làm thức ăn gia súc, nhằm cho phép các nhà khai thác hữu cơ có được thông tin đầy đủ về thành phần và sự hiện diện của các thành phần hữu cơ, trong quá trình chuyển đổi và các thành phần phi hữu cơ được phép trong các sản phẩm liên quan. Các quy định như vậy cũng có thể liên quan đến các nhà khai thác hữu cơ ở các Nước thứ ba.

Đề xuất nhằm mục đích tạo ra sự minh bạch hơn đối với thông tin chi tiết được truyền giữa các nhà điều hành hữu cơ liên quan đến thành phần định tính và định lượng chính xác của thức ăn hỗn hợp và hỗn hợp của hạt giống cây thức ăn gia súc về mặt hữu cơ, chuyển đổi và được phép phi hữu cơ các thành phần được cung cấp trên nhãn hoặc trên tài liệu kèm theo các sản phẩm liên quan; Khác

Thông báo của Liên minh Châu Âu về etoxazole

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/EU/733 ngày 17/8/2020, Liên minh Châu Âu thông báo về Dự thảo Quy định của Ủy ban Thực hiện gia hạn việc phê duyệt hoạt chất etoxazole như một ứng cử viên để thay thế theo Quy định (EC) số 1107/2009 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu liên quan đến việc đưa các sản phẩm bảo vệ thực vật ra thị trường và sửa đổi Phụ lục về Quy định Thực hiện của Ủy ban (EU) số 540/2011 (5 trang, bằng tiếng Anh; 3 trang, bằng tiếng Anh).

Dự thảo Quy định Thực hiện của Ủy ban này quy định rằng việc phê duyệt hoạt chất etoxazole được gia hạn như một chất để thay thế theo Quy định (EC) số 1107/2009. Tuy nhiên, cần phải bao gồm một số điều kiện và hạn chế nhất định. Đặc biệt, chỉ sử dụng trên cây cảnh trong nhà kính vĩnh viễn mới có thể được chấp thuận.

Các sản phẩm bảo vệ thực vật hiện có được ủy quyền có chứa etoxazole sẽ được xem xét theo các hạn chế. Sự hạn chế dựa trên đánh giá đầu tiên về chất được sử dụng làm hoạt chất trừ sâu ở EU theo Quy định (EC) số 1107/2009. Chất này trước đây đã được phê duyệt theo Chỉ thị 91/414 / EEC.

Quyết định này chỉ liên quan đến việc đưa hoạt chất này vào thị trường. Sau khi hạn chế phê duyệt và kết quả là hết thời gian gia hạn đối với các kho sản phẩm, hành động riêng biệt có thể sẽ được thực hiện đối với Giới hạn dư lượng tối đa MRLs và một thông báo riêng sẽ được thực hiện theo quy trình SPS.

Để hoạt chất được phê duyệt theo đúng quy định. với Quy định (EC) số 1107/2009 (liên quan đến việc đưa các sản phẩm bảo vệ thực vật ra thị trường), nó phải được chứng minh rằng chất này không gây hại cho sức khoẻ con người, sức khoẻ động vật hoặc môi trường. Các tiêu chí được liệt kê trong Điều 4 của Quy định (và cũng được nêu chi tiết trong Phụ lục II) phải được đáp ứng để được phê duyệt. Trong quá trình đánh giá và bình duyệt etoxazole, một số mối quan tâm và các lĩnh vực chưa thể hoàn thiện đã được xác định. Những điều này được nêu chi tiết trong kết luận của Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA). EFSA kết luận rủi ro cao đối với động vật chân đốt không phải mục tiêu và không thể hoàn thành đánh giá rủi ro chế độ ăn uống của người tiêu dùng khi xem xét dữ liệu nổi bật để kết luận về định nghĩa dư lượng để đánh giá rủi ro đối với hàng hóa chế biến. Những lo ngại này có nghĩa là etoxazole đáp ứng các tiêu chí phê duyệt như được nêu trong Quy định (EC) số 1107/2009 chỉ khi phê duyệt bị hạn chế sử dụng trên cây cảnh trong nhà kính cố định. Các ủy quyền hiện tại sẽ cần được sửa đổi hoặc thu hồi sau khi gia hạn ủy quyền theo Điều 43 của Quy định (EC) số 1107/2009; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ của động vật, thực vật; Bảo vệ môi trường.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Honduras về bơ sữa

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/HND/96 ngày 2/7/2020, Honduras thông báo về Quy chuẩn kỹ thuật Trung Mỹ số 67.04.77: 20: Sản phẩm sữa – Bơ. Thông số kỹ thuật (5 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha).

Quy chuẩn kỹ thuật Trung Mỹ được thông báo thiết lập các thông số kỹ thuật phải đáp ứng của bơ, như được định nghĩa trong Điều 4 của quy định đó. Nó áp dụng cho bơ dùng cho người trực tiếp hoặc chế biến tiếp trên lãnh thổ của các Quốc gia thành viên.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm bảo vệ tính mạng và sức khỏe con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Ấn Độ về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/IND/157 ngày 6/8/2020, Ấn Độ thông báo về Dự thảo Quy định sửa đổi về Tiêu chuẩn và An toàn Thực phẩm (Tiêu chuẩn Sản phẩm Thực phẩm và Phụ gia Thực phẩm), 2020 w.r.t. tiêu chuẩn mới của Sản phẩm thay thế sữa và sửa đổi tiêu chuẩn của Bơ thanh lọc và các Sản phẩm chất béo từ sữa khác (11 trang, bằng tiếng Anh).

Thông báo dự thảo này quy định các tiêu chuẩn cho sản phẩm thay thế sữa bao gồm định nghĩa, yêu cầu ghi nhãn và danh pháp của các sản phẩm đó. Dự thảo thông báo cũng bao gồm các tiêu chuẩn sửa đổi của bơ thanh lọc và các sản phẩm chất béo từ sữa khác.

Mục đích của quy định này nhằm:

  1. i) Giải quyết vấn đề ghi nhãn liên quan đến các sản phẩm sữa để phân biệt với các sản phẩm sữa gốc và các hành vi gian lận liên quan trong ngành công nghiệp sữa thông qua việc bán các sản phẩm tương tự sữa làm sản phẩm sữa nhái.
  2. ii) Để hài hòa các thông số chất lượng hiện có của Bơ thanh lọc trên khắp Ấn Độ và bao gồm các thông số chất lượng cụ thể và chính xác hơn cho bơ thanh lọc để giải quyết các vấn đề về sự tạp nhiễm của nó với chất béo không phải sữa. ;

iii) Đảm bảo các yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của I-xra-en về dược phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/ISR/1161 ngày 14/8/2020, I-xra-en thông báo về Quy trình Ghi nhãn bao bì các chế phẩm Y tế (PRA-043/03) (17 trang, bằng tiếng Do Thái).

Quy trình mới được Phòng quản lý Dược phẩm thuộc Bộ Y tế I-xra-en công bố có tên là “Quy trình Ghi nhãn bao bì các chế phẩm Y tế (PRA-043/03)”. Quy trình này thay thế quy trình trước đó được ban hành từ tháng 7 năm 2007 (sửa đổi vào tháng 7 năm 2012) và dựa trên Quy định 20 của “Quy định về dược sĩ (Chế phẩm) 5746-1986” và quy định 13 của “Quy định về dược sĩ (Bán thuốc không kê đơn) bào chế không có trong nhà thuốc hoặc không phải của dược sĩ) 5765-2004 ”.

Mục đích của quy trình là làm rõ các yêu cầu của Quy định 20 và Quy định 13 và đảm bảo rằng tất cả các yêu cầu về đóng gói sẽ xuất hiện trên bao bì chuẩn bị, được liệt kê trong Sổ đăng ký chuẩn bị, để cung cấp cho bệnh nhân thông tin cần thiết liên quan đến việc chuẩn bị và hỗ trợ trong việc cung cấp thuốc điều trị an toàn và hiệu quả. Quy trình thu thập tất cả các yêu cầu hiện có thành một danh sách thống nhất cũng chứa các tham chiếu đến các yêu cầu quốc tế tương tự. Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Quy trình dự kiến có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 01/9/2020.

Thông báo của Kenya về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1010 ngày 05/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2571: 2020 về Chất bổ sung và chất bổ sung vi chất trong thực phẩm – Yêu cầu cung cấp ở Kenya (8 trang, bằng tiếng Anh).

Dự thảo Tiêu chuẩn Kenya này đưa ra các yêu cầu đăng ký đối với các nhà cung cấp hỗn hợp bổ sung vi chất và chất bổ sung thực phẩm cho ngành sản xuất các sản phẩm có công bố bổ sung vi chất thực phẩm bắt buộc ở Kenya.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho cả các nhà sản xuất và nhà cung cấp hỗn hợp cũng như các ngành công nghiệp thực phẩm như nhà máy xay xát hoặc nhà máy lọc dầu ăn có thể tìm cách nhập khẩu trực tiếp hỗn hợp trộn để sử dụng nội bộ và bán.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 04/10/2020.

Thông báo của Kenya về xi măng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1011 ngày 05/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2168-1: 2020 Xi măng xây – Đặc điểm kỹ thuật Phần 1: Thành phần, đặc điểm kỹ thuật và tiêu chí phù hợp (18 trang, bằng tiếng Anh).

Tiêu chuẩn này quy định định nghĩa và thành phần của các loại xi măng xây thường được sử dụng để sản xuất vữa xây gạch và xây khối cũng như để xây và trát. Tiêu chuẩn bao gồm các yêu cầu vật lý, cơ học và hóa học và xác định các lớp chịu lực.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 02/10/2020.

Thông báo của Kenya về xi măng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1012 ngày 05/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2168-2: 2020 Xi măng xây Phần 2: Phương pháp thử (14 trang, bằng tiếng Anh)

Tiêu chuẩn này mô tả các phương pháp thử tham chiếu và phương pháp thử thay thế được sử dụng khi thử nghiệm xi măng xây để đánh giá sự phù hợp của chúng với KS 2168-1. Tiêu chuẩn cung cấp các thử nghiệm trên vữa mới về độ nhất quán, khả năng giữ nước và hàm lượng không khí.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 02/10/2020.

Thông báo của Kenya về khẩu trang

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1013 ngày 05/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2924: 2020 Thiết bị Bảo vệ Cá nhân – Khẩu trang – Khẩu trang sử dụng công cộng – Yêu cầu và Phương pháp thử (15 trang, bằng tiếng Anh).

Dự thảo Tiêu chuẩn Kenya này quy định các yêu cầu đối với khẩu trang được sử dụng chung để ngăn ngừa khí thải dạng bình xịt từ người sang người ở nơi công cộng. Khẩu trang có hàng rào vi khuẩn thích hợp có thể có hiệu quả trong việc giảm phát thải các tác nhân lây nhiễm từ mũi và miệng của người mang mầm bệnh không có triệu chứng hoặc bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 03/10/2020.

Thông báo của Kenya về bao bì

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1015 ngày 11/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2923-2: 2020 Bạt xử lý nông sản sau thu hoạch. Phần 2: Vải polyester phủ Polyvinyl clorua (PVC) (13 trang, bằng tiếng Anh).

Phần hai này của Tiêu chuẩn Kenya quy định các yêu cầu, phương pháp thử và lấy mẫu đối với vải polyester phủ bạt polyvinyl clorua (PVC) được sử dụng để xử lý nông sản sau thu hoạch.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 04/10/2020.

Thông báo của Kenya về bao bì

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KEN/1016 ngày 11/8/2020, Kenya thông báo dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia KS 2923-1: 2020 Bạt xử lý nông sản sau thu hoạch. Phần 1: Dệt Polyethylene mật độ cao (14 trang, bằng tiếng Anh)

Phần này của Tiêu chuẩn Kenya quy định các yêu cầu và phương pháp thử nghiệm đối với các tấm bạt làm từ polyetylen mật độ cao dệt thoi và được sử dụng để xử lý nông sản như ngũ cốc sau thu hoạch.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 04/10/2020.

Thông báo của Hàn Quốc về hóa chất

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/911 ngày 31/7/2020, Hàn Quốc thông báo dự thảo 2 văn bản sau:

  1. Dự thảo sửa đổi một phần Nghị định thực thi của Đạo luật An toàn sản phẩm hóa chất tiêu dùng và chất diệt khuẩn (47 trang, bằng tiếng Hàn Quốc), quy định:

Danh sách bổ sung của chất hoặc sản phẩm được miễn kiểm tra, thông báo hoặc phê duyệt tuân thủ; phương pháp áp dụng để thông báo và phê duyệt bất kỳ thay đổi nào xảy ra trong sản phẩm hóa chất tiêu dùng đã được thông báo hoặc phê duyệt đối tượng Kiểm tra An toàn; các yếu tố bổ sung của tiêu chí tương tự được áp dụng cho các mặt hàng đã qua xử lý nhập khẩu; lý do cho phép các thử nghiệm động vật có xương sống lặp lại; thời gian kinh nghiệm làm việc tối thiểu đối với kỹ thuật viên của các viện kiểm nghiệm được chỉ định; danh sách các công việc bổ sung có thể được thực hiện bởi một đại diện được chỉ định bởi nhà sản xuất ở nước ngoài; và thông tin mà người đại diện sẽ thông báo cho các nhà nhập khẩu.

  1. Dự thảo sửa đổi một phần Quy tắc thực thi của Đạo luật An toàn sản phẩm hóa chất tiêu dùng và chất diệt khuẩn (92 trang, bằng tiếng Hàn), quy định:

Thủ tục xác nhận liệu một chất hoặc sản phẩm có được miễn kiểm tra, thông báo hoặc phê duyệt tuân thủ hay không; danh sách các thay đổi sẽ được thông báo hoặc phê duyệt liên quan đến sản phẩm hóa chất tiêu dùng đã được thông báo hoặc phê duyệt đối tượng Kiểm tra An toàn, và các mẫu đơn đăng ký có liên quan; danh sách thông tin về Sản phẩm Hóa chất Tiêu dùng được Kiểm tra An toàn sẽ được tiết lộ cho công chúng; cải tiến thủ tục đệ trình chung để phê duyệt và các yêu cầu dữ liệu liên quan; một phương pháp cho phép tạm thời miễn chấp thuận các sản phẩm diệt khuẩn sinh học tại thời điểm khẩn cấp; nộp dữ liệu bằng chứng để chứng minh tác dụng hoặc hiệu quả của sản phẩm hóa chất tiêu dùng khi thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về sản phẩm đó, nếu nó nhằm chỉ ra tác dụng hoặc hiệu quả của bất kỳ hoạt chất nào trong sản phẩm; cấm hiển thị bất kỳ chỉ dẫn hoặc biểu hiện nào trên bao bì và quảng cáo nếu nó tuyên bố tác dụng hoặc hiệu quả khác với những gì đã được thông báo hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; một tiêu chuẩn cho sản xuất hoặc cơ sở lưu trữ để đảm bảo quản lý chất lượng của các sản phẩm được yêu cầu phê duyệt, và tiêu chuẩn kiểm soát an toàn của chúng; tư cách của người đại diện được nhà sản xuất ở nước ngoài chỉ định và thủ tục thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc chỉ định hoặc sa thải.

Mục đích đưa ra hai bản dự thảo này nhằm: Theo sửa đổi của Đạo luật An toàn sản phẩm hóa chất tiêu dùng và chất diệt khuẩn vào ngày 24 tháng 3 năm 2020, những sửa đổi một phần này của các luật dưới đây nêu rõ các vấn đề được giao phó để hỗ trợ việc thực hiện Đạo luật, cũng như cung cấp các yếu tố bổ sung để cải thiện hệ thống bảo đảm an toàn về người; Phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Giảm các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho thương mại.

Hạn góp ý cuối cùng: 50 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hàn Quốc về hóa chất

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/KOR/912 ngày 5/8/2020, Hàn Quốc thông báo Sửa đổi Nghị định thi hành Luật lưu thông tài nguyên điện, điện tử và phương tiện (29 trang, bằng tiếng Hàn).

Tăng số lượng sản phẩm điện và điện tử tuân thủ mức tối đa các chất độc hại từ 26 lên 49 khi sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm và tăng số lượng hoặc các chất độc hại từ 6 lên 10, cụ thể:

– 23 sản phẩm bổ sung gồm:

  1. Máy bán hàng tự động
  2. Máy hút ẩm
  3. Lò nướng bánh mì
  4. Ấm điện
  5. Máy nước nóng điện
  6. Chảo chiên điện
  7. Máy sấy tóc
  8. Máy chạy bộ
  9. Camera giám sát
  10. Máy khử nước thực phẩm
  11. Đồ điện cho Mát xa
  12. Spa chân
  13. Máy may
  14. Bảng điều khiển trò chơi điện tử (không bao gồm bảng điều khiển trò chơi bỏ tay)
  15. Bộ định tuyến có dây và không dây
  16. Máy quét (không bao gồm máy quét di động)
  17. Thợ làm bánh mì
  18. Thiết bị định vị GPS
  19. Nồi chiên
  20. Máy chiếu (không bao gồm máy chiếu di động)
  21. Máy pha cà phê
  22. Nồi nấu thuốc bắc
  23. Máy sấy quay

– 4 chất độc hại gồm:

  1. Bis (2-ethylhexyl) phthalate (DEHP)
  2. Butyl benzyl phthalate (BBP)
  3. Dibutyl phthalate (DBP)
  4. Diisobutyl phthalate (DIBP)

Mục đích của việc sửa đổi này nhằm xua đi lo ngại về tác động đến con người và môi trường bằng cách hạn chế hàm lượng chất độc hại trong sản phẩm và áp dụng bản sửa đổi mới nhất của Quy tắc RoHS của EU cho các quy định trong nước; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Bảo vệ môi trường; Sự hài hòa.

Quy định dự kiến có hiệu lực kể từ ngày 01/1/2020.

Thông báo của Nicaragua về bơ

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/NIC/163 ngày 22/7/2020, Nicaragua thông báo ban hành quy chuẩn kỹ thuật Nicaraguan (NTON) số 03 111- 20/Quy chuẩn kỹ thuật Trung Mỹ (RTCA) Số 67.04.77: 20: Sản phẩm sữa. Bơ. Thông số kỹ thuật (5 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha).

Quy chuẩn kỹ thuật Trung Mỹ được thông báo thiết lập các thông số kỹ thuật phải đáp ứng của bơ, như được định nghĩa trong Điều 4 của quy chuẩn đó. Quy chuẩn này áp dụng cho bơ dùng cho người trực tiếp hoặc chế biến tiếp trên lãnh thổ của các Quốc gia thành viên.

Mục đích ban hành quy chuẩn này nhằm bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Peru về chất độc hại

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/PER/124 ngày 17/7/2020, Peru thông báo về Dự thảo Quy định về quản lý và kiểm soát các chất độc hại và tương tự được sử dụng trong gia đình, công nghiệp và/hoặc sức khỏe cộng đồng) (30 trang, bằng tiếng Tây Ban Nha)

Dự thảo đã thông báo Quy định quản lý việc nhập khẩu, sản xuất và tiếp thị hóa chất nhằm đảm bảo rằng chúng được sử dụng và quản lý đúng cách, có chất lượng tốt và không gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng.

Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Thông báo của Liên bang Nga về sản phẩm y tế

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/RUS/104 ngày 12/8/2020, Liên bang Nga thông báo về Dự thảo sửa đổi Quy tắc thực hiện các nghiên cứu (thử nghiệm) để đánh giá hoạt động sinh học của các sản phẩm y tế (18 trang, bằng tiếng Nga).

Dự thảo sửa đổi Quy tắc thực hiện các nghiên cứu (thử nghiệm) để đánh giá tác dụng sinh học của các sản phẩm y tế đối với các thiết bị y tế được ban hành để lưu hành trong lãnh thổ của Liên minh Kinh tế Á-Âu và quy định những điều sau:

– làm rõ các khái niệm;

– xác định căn cứ để loại trừ các phòng thí nghiệm (trung tâm) ra khỏi sổ đăng ký thống nhất của các tổ chức được ủy quyền có quyền nghiên cứu (thử nghiệm) trang thiết bị y tế cho mục đích đăng ký của họ;

– làm rõ hình thức của Quy trình nghiên cứu (thử nghiệm) để đánh giá hoạt động sinh học của các sản phẩm y tế.

Mục đích ban hành quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Thái Lan về nhãn hiệu tiêu chuẩn

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/THA/577 ngày 7/8/2020, Thái Lan thông báo Quyết định số B.E.2563 (2020) của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp quy định mô tả, sản xuất và phương pháp trình bày nhãn hiệu tiêu chuẩn trên Sản phẩm Công nghiệp (6 trang, bằng tiếng Thái).

Quyết định này được ban hành để bãi bỏ (1) Quyết định của Bộ trưởng quy định mô tả nhãn hiệu tiêu chuẩn gắn trên sản phẩm công nghiệp, B.E. 2549 (năm 2006); (2) Quyết định của Bộ trưởng quy định tiêu chí và phương pháp trình bày nhãn hiệu tiêu chuẩn trên sản phẩm công nghiệp, B.E. 2550 (2007).

Quyết định quy định các yêu cầu liên quan đến:

  1. Mô tả về nhãn hiệu tiêu chuẩn gắn trên các sản phẩm công nghiệp theo Mục 16 và Mục 20 và 21 của Luật Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp B.E. 2551 (năm 1968).
  2. Người được cấp phép theo Mục 16 và Mục 20 và 21, tùy từng trường hợp, phải chịu trách nhiệm sản xuất một nhãn hiệu tiêu chuẩn.
  3. Nhãn hiệu tiêu chuẩn phải được trình bày rõ ràng, nổi bật và không thể tẩy xóa được trên các sản phẩm công nghiệp hoặc trên bao bì, bó, giấy bọc hoặc bưu kiện của chúng.
  4. Khi gắn một nhãn hiệu tiêu chuẩn, những điều sau đây sẽ được trình bày:
  • Số tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp được phép và thông tin điện tử liên quan bên dưới hoặc bên cạnh dấu tiêu chuẩn.
  • Tên đầy đủ hoặc chữ viết tắt của bên được cấp phép hoặc nhãn hiệu thương mại đã đăng ký gần với nhãn hiệu tiêu chuẩn.

Mục đích ban hành quyết định này nhằm ngăn chặn các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng.

Quyết định này dự kiến thông qua ngày 24/6/2020 và có hiệu lực thi hành sau 180 ngày kể từ ngày đăng trên công báo.

Thông báo của Thái Lan về sản phẩm công nghiệp

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/THA/578 ngày 7/8/2020, Thái Lan thông báo Quyết định số B.E. 2563 (2020) của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp quy định quy tắc và thủ tục trong việc áp dụng, cấp giấy phép gắn nhãn hiệu tiêu chuẩn trên sản phẩm Công nghiệp, Giấy phép sản xuất và Giấy phép nhập khẩu để bán sản phẩm công nghiệp tại thị trường Vương quốc Thái Lan (5 trang, bằng tiếng Thái).

Quyết định của Bộ trưởng được ban hành để bãi bỏ (1) Quyết định của Bộ trưởng quy định về Quy tắc và thủ tục áp dụng, kiểm tra và cấp Giấy phép gắn nhãn hiệu tiêu chuẩn trên Sản phẩm công nghiệp, Giấy phép sản xuất và Giấy phép nhập khẩu để bán các sản phẩm công nghiệp tại Vương quốc Thái Lan theo Sắc lệnh của Hoàng gia yêu cầu phù hợp với tiêu chuẩn, BE 2549 (năm 2006); (2) Quyết định của Bộ trưởng về quy tắc và thủ tục áp dụng và cấp Giấy phép thay thế Giấy phép, di chuyển vị trí được chỉ định trong Giấy phép và chuyển nhượng Giấy phép.

Quyết định quy định các yêu cầu liên quan đến:

  1. Bất kỳ ai muốn gắn nhãn hiệu tiêu chuẩn trên các sản phẩm công nghiệp theo mục 16, để sản xuất các sản phẩm công nghiệp được quy định của bộ bắt buộc phải phù hợp với tiêu chuẩn theo mục 20 và nhập khẩu để bán các sản phẩm công nghiệp tại Vương quốc được yêu cầu bởi quy định của bộ trưởng để phù hợp với tiêu chuẩn theo mục 21 của Đạo luật Tiêu chuẩn Sản phẩm Công nghiệp BE 2511 sẽ nộp đơn xin cấp giấy phép và bằng chứng cho Tổng giám đốc Viện Tiêu chuẩn Công nghiệp Thái Lan.
  2. Tiêu chuẩn để xét cấp giấy phép bao gồm:

1) Các sản phẩm được sản xuất tuân theo tiêu chuẩn công nghiệp

2) Hệ thống kiểm soát chất lượng của nhà máy ứng dụng để duy trì năng lực sản xuất sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn áp dụng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

  1. Người được cấp phép muốn yêu cầu cấp giấy phép thay thế theo Mục 23, di chuyển địa điểm được chỉ định trong giấy phép theo Mục 24, chuyển nhượng giấy phép theo Mục 25, nhận chuyển nhượng giấy phép trong phù hợp với Mục 26 của Luật Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp BE 2511 sẽ nộp đơn cho Tổng giám đốc Viện Tiêu chuẩn Công nghiệp Thái Lan.
  2. Đơn đề nghị cấp Giấy phép, Giấy xác nhận đã tiếp nhận hồ sơ, nộp lệ phí và cấp Giấy phép theo quy định của Bộ trưởng chủ yếu được áp dụng qua hệ thống trực tuyến.

Quyết định dự kiến được thông qua ngày 24/6/2020 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2020.

Thông báo của Đài Loan về vật liệu xây dựng

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TPKM/425 ngày 17/8/2020, Đài Loan thông báo về Đề xuất kiểm tra pháp lý đối với gạch ốp ngoại thất (2 trang, bằng tiếng Anh; 1 trang, bằng tiếng Trung).

Trước những lo ngại của công chúng về việc quy định chất lượng gạch ốp lát ngoại thất để tránh các nguy cơ mất an toàn do gạch ốp lát rơi xuống, Cục Tiêu chuẩn Đo lường và Giám định (BSMI) đề xuất yêu cầu gạch ốp lát ngoại thất, cả sản xuất trong nước và nhập khẩu, phải kiểm tra bắt buộc trước khi đưa ra thị trường. Thủ tục đánh giá sự phù hợp sẽ là Đăng ký Chứng nhận Sản phẩm (RPC) (Kiểm tra Kiểu Mô-đun II + Kiểm tra Nhà máy Mô-đun VII).

Mục đích ban hành quy định này nhằm phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Trinidad và Tobago về thép làm cốt bê tông

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/TTO/125 ngày 31/7/2020, Trinidad và Tobago thông báo ban hành Tiêu chuẩn quốc gia: Thép làm cốt bê tông – Yêu cầu bắt buộc.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho các thanh thép trơn và thép biến hình làm cốt bê tông. Nó được áp dụng cho các loại cốt thép bê tông sau:

  • thanh thép không hàn;
  • thép thanh (hợp kim thấp) hàn được;
  • thanh thép phủ epoxy;
  • thép thanh tráng kẽm;
  • thanh thép không gỉ;
  • thanh thép đúc sẵn, phủ epoxy;
  • thanh thép đường sắt;
  • thanh thép cacbon, crom, thấp; và
  • thanh thép mạ kẽm và epoxy kép.

Tiêu chuẩn này đưa ra các yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm nêu trên, các cơ chế để chứng minh sự tuân thủ các yêu cầu này cũng như các biện pháp được thực hiện trong trường hợp không tuân thủ.

Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các thanh có đầu, dây thép dùng làm cốt bê tông, thép thanh dùng để bê tông dự ứng lực hoặc các thanh thép không dùng làm cốt bê tông.

Mục đích ban hành tiêu chuẩn này nhằm phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người; Yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Thông báo của Hoa Kỳ về thực phẩm

******

Theo tin cảnh báo số G/TBT/N/USA/1637 ngày 10/8/2020, Hoa Kỳ thông báo Chương trình hữu cơ quốc gia; Tăng cường thực thi hữu cơ (57 trang, bằng tiếng Anh).

Quy tắc đề xuất – Cơ quan quản lý thị trường nông nghiệp (AMS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đề xuất sửa đổi các quy định hữu cơ của USDA để tăng cường giám sát và thực thi sản xuất, xử lý và bán các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Các sửa đổi được đề xuất nhằm bảo vệ tính toàn vẹn trong chuỗi cung ứng hữu cơ và xây dựng lòng tin của người tiêu dùng và ngành công nghiệp đối với nhãn hữu cơ của USDA bằng cách tăng cường hệ thống kiểm soát hữu cơ, cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc từ trang trại đến thị trường và thực thi mạnh mẽ các quy định hữu cơ của USDA. Các chủ đề được đề cập trong quy tắc đề xuất này bao gồm: Khả năng áp dụng các quy định và miễn trừ chứng nhận hữu cơ; Chứng nhận nhập khẩu thuộc Chương trình Hữu cơ Quốc gia; lưu trữ hồ sơ và truy xuất nguồn gốc sản phẩm; chứng nhận trình độ và đào tạo nhân viên đại lý; các chứng chỉ hợp chuẩn về hoạt động hữu cơ; kiểm tra tại chỗ không báo trước đối với các hoạt động được chứng nhận; giám sát các hoạt động chứng nhận; hệ thống đánh giá sự phù hợp của nước ngoài; chứng nhận hoạt động của nhóm người trồng; ghi nhãn cho các container không bán lẻ; yêu cầu cập nhật hàng năm cho các hoạt động được chứng nhận; các quy trình tuân thủ và kháng nghị; và tính toán hàm lượng hữu cơ của các sản phẩm đa thành phần.

Mục đích ban hành quy định này nhằm thông tin người tiêu dùng, nhãn mác; Phòng chống các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; Yêu cầu chất lượng.

Hạn góp ý cuối cùng: ngày 05/10/2020.

 (Lê Thành Kông dịch từ thông báo của WTO)

 

THÔNG TIN PHÁP LUẬT

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

********

Ngày 26/8/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 98/2020/NĐ–CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định tại Nghị định này bao gồm:

  1. a) Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo giấy phép kinh doanh, trừ trường hợp đã được quy định tại nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác;
  2. b) Hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh; sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng cấm;
  3. c) Hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; hàng hóa lưu thông trong nước bị áp dụng biện pháp khẩn cấp; hàng hóa quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ và có vi phạm khác;
  4. d) Hành vi vi phạm về kinh doanh thuốc lá;

đ) Hành vi vi phạm về kinh doanh rượu;

  1. e) Hành vi đầu cơ hàng hóa và găm hàng;
  2. g) Hành vi vi phạm về hoạt động xúc tiến thương mại;
  3. h) Hành vi vi phạm về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa;
  4. i) Hành vi vi phạm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  5. k) Hành vi vi phạm về thương mại điện tử;
  6. l) Hành vi vi phạm về thành lập và hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam;
  7. m) Các hành vi vi phạm khác trong hoạt động thương mại.

Nghị định quy định mức phạt tối đa lĩnh vực thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là 100 triệu đồng với cá nhân; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm là 200 triệu đồng. Mức phạt với tổ chức sẽ gấp 02 lần mức phạt của cá nhân, tương đương 200 triệu với hành vi trong lĩnh vực thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; 400 triệu đồng đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm.

Cụ thể, cá nhân có hành vi buôn bán hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng bị phạt tiền từ 1 triệu đến 70 triệu đồng phụ thuộc vào giá trị hàng giả tương đương với hàng thật. Đối với hành buôn bán hàng giả là thực phẩm, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế… mức phạt tiền sẽ tăng gấp đôi.

Đối với hành vi sản xuất hàng giả, mức phạt tiền tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân. Tương tự mức phạt tối đa 200 triệu đồng nếu sản xuất hàng giả là thực phẩm, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế.

Nghị định cũng quy định các mức phạt đối với hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc ngành nghề đầu tư cấm, đầu cơ hàng hóa và găm hàng; xúc tiến thương mại, vi phạm về thương mại điện tử…

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Nghị định này thay thế:

– Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

– Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

– Nghị định số 141/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.

 

Tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu bị phạt tối đa 50 triệu đồng

********

Ngày 26/8/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2020/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Nghị định áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Theo Nghị định, hành vi tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu không đúng thời điểm thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định sẽ bị phạt tiền từ 30-50 triệu đồng. Đồng thời, nếu vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm thì áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu từ 01 tháng đến 03 tháng.

Ngoài ra, phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu vi phạm một trong các trường hợp sau và trị giá xăng dầu vi phạm dưới 10 triệu đồng: vận chuyển xăng dầu vào khu vực biên giới không đúng quy định; buôn bán, trao đổi, sang mạn xăng dầu trên biển với tàu thuyền, phương tiện của nước ngoài.

Bên cạnh đó, thương nhân kinh doanh mua bán khí qua đường ống mà không có trạm cấp khí đáp ứng đủ các điều kiện về an toàn theo quy định bị phạt tiền từ 80-100 triệu đồng và bị đình chỉ hoạt động mua bán khí qua đường ống từ 01 tháng đến 03 tháng.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 11/10/2020.

 

Kiểm tra thực tế 20% lô hàng gỗ trước khi xuất khẩu

********

Ngày 01/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 102/2020/NĐ-CP về việc quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam.

Theo đó, gỗ thuộc loại rủi ro nhập khẩu vào Việt Nam thuộc một trong các tiêu chí sau: gỗ thuộc Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Gỗ thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA, nhóm IIA; Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định; gỗ lần đầu nhập khẩu vào Việt Nam; gỗ có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng tại quốc gia khai thác hoặc buôn bán trái phép được quy định trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Ngoài ra, lô hàng gỗ xuất khẩu của chủ gỗ không phải là doanh nghiệp Nhóm I phải được xác nhận bởi cơ quan Kiểm lâm sở tại về nguồn gốc gỗ. Lô hàng gỗ có nguồn gốc từ gỗ rừng trồng trong nước xuất khẩu sang thị trường ngoài EU thì không cần xác nhận. Cơ quan Kiểm lâm thực hiện kiểm tra thực tế 20% lô hàng gỗ. Nếu có thông tin vi phạm thì đề xuất Thủ trưởng cơ quan Kiểm lâm sở tại quyết định tăng tỷ lệ kiểm tra và gia hạn thời gian kiểm tra (không quá 02 ngày).

Bên cạnh đó, giấy phép FLEGT sẽ bị thu hồi nếu thuộc một trong các trường hợp sau: chủ gỗ tự nguyện trả lại; giấy phép FLEGT hết hạn nhưng chủ gỗ không xuất khẩu hoặc không đề nghị gia hạn giấy phép; chủ gỗ có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lô hàng xuất khẩu bị phát hiện sau khi được cấp giấy phép; chủ gỗ có hành vi gian lận thông tin liên quan đến giấy phép FLEGT đã được cấp.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 30/10/2020.

 

Miễn thuế nhập khẩu theo hạn ngạch cho 09 loại gạo thơm xuất khẩu sang EU

********

Ngày 04/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 103/2020/NĐ-CP quy định về chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang Liên minh châu Âu.

Nghị định quy định về chứng nhận chủng loại gạo thơm, gạo thơm là loại gạo thuộc Danh mục quy định tại điểm 8 tiểu mục 1 mục B Phụ lục 2-A của Hiệp định EVFTA. Trong đó, 09 chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang Liên minh châu Âu được hưởng miễn thuế nhập khẩu theo hạn ngạch đó là: Jasmine 85; ST 5; ST 20; Nàng Hoa 9; VĐ 20; RVT; OM 4900; OM 5451; Tài nguyên Chợ Đào.

Bên cạnh đó, 02 điều kiện chủng loại gạo thơm được chứng nhận bao gồm:

Trước hết, gạo thơm được sản xuất từ giống lúa thơm có chất lượng hạt giống phù hợp theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia; có thông tin rõ ràng về diện tích, địa điểm trồng (tổ/thôn, phường/xã, quận/huyện/thị xã, tỉnh/thành phố).

Tiếp theo, lô ruộng lúa thơm được kiểm tra đảm bảo độ thuần giống (% số cây) không nhỏ hơn 95%.

Ngoài ra, Chính phủ cũng quy định lô ruộng lúa thơm được kiểm tra 01 lần trong thời gian 20 ngày trước khi thu hoạch và được lập Biên bản kiểm tra theo mẫu. Cơ quan có thẩm quyền chứng nhận, chứng nhận lại, hủy bỏ Giấy chứng nhận chủng loại gạo thơm là Cục Trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký.

Doanh nghiệp phải nộp báo cáo quyết toán chậm nhất 90 ngày

********

Ngày 28/8/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 100/2020/NĐ-CP về việc kinh doanh hàng miễn thuế.

Theo Điều 24 của Nghị định, định kỳ hằng năm, doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế phải nộp báo cáo quyết toán tình hình bán hàng miễn thuế trong năm tài chính cho cơ quan hải quan chậm nhất 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính tại Chi cục Hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế. Chi cục Hải quan tiến hành kiểm tra báo cáo sau khi nhận được báo cáo quyết toán của doanh nghiệp. Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, cơ quan hải quan phải thông báo kết quả kiểm tra cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, đối với hàng hóa tiêu hủy, hàng mẫu, hàng thử, túi, bao bì nhập khẩu để đựng hàng miễn thuế, phải được lập bảng kê theo mẫu. Trong 07 ngày làm việc đầu tiên của tháng, doanh nghiệp tổng hợp số liệu hàng mẫu, hàng thử, túi, bao bì nhập khẩu đã sử dụng, còn tồn của tháng trước gửi đến hệ thống xử lý dữ liệu điện tử.

Bên cạnh đó, người nhập cảnh tại cửa khẩu sân bay quốc tế khi mua hàng miễn thuế vượt định mức phải thực hiện kê khai, nộp thuế và các chứng từ liên quan cho cơ quan hải quan.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15/10/2020.

(Nguyễn Thị Thắng)

 

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Qui định về nhập khẩu của Na Uy

*******

Qui định về nhập khẩu của Na Uy, để các doanh nghiệp tham khảo.

  1. Thủ tục hải quan

Thông thường hàng hoá trước khi làm thủ tục thông quan sẽ được các đại lý vận chuyển chuyển tới kho ngoại quan. Các kho ngoại quan ở Na Uy không thuộc sở hữu của Hải quan mà thường thuộc sở hữu của các đại lý giao nhận.

Thủ tục hải quan có thể do người nhập khẩu hoặc đại lý giao nhận được uỷ quyền thực hiện. Tuy nhiên, người nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về hàng hoá nhập khẩu và các thông tin khai báo hải quan.

Tờ khai hải quan có thể được nộp thông qua hệ thống TVINN hoặc tờ khai theo mẫu Tài liệu Hành chính đơn (SAD) được nộp trực tiếp cùng các chứng từ khác như hoá đơn, vận đơn, và các chứng từ cần thiết khác, tuỳ vào mặt hàng nhập khẩu, ví dụ giấy phép nhập khẩu, giấy chứng nhận kiểm dịch, hay giấy chứng nhận xuất xứ.

  1. Cấm và hạn chế nhập khẩu

Na Uy duy trì các biện pháp nhằm hạn chế hoặc thậm chí cấm nhập khẩu. Một vài mặt hàng bị cấm nhập khẩu nếu không có giấy phép hoặc đáp ứng được các điều kiện đặc biệt trước khi nhập khẩu.

Năm 2015, Na Uy ban hành chính sách mới nhằm hạn chế sự lây lan của các sinh vật nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 liên quan đến những qui định về các loại sinh vật ngoại lai. Chính sách này bao gồm các yêu cầu về giấy phép nhập khẩu các loại sinh vật ngoại lai, việc phóng thích các loại sinh vật.

Na Uy tham gia ký kết công ước CITES về bảo vệ động vật hoang dã từ năm 1974, hiện đang bảo vệ khoảng 35.000 loài động vật bị đe dọa thông qua hệ thống giấy phép.

Kể từ năm 1989, việc sản xuất, buôn bán và nhập khẩu thuốc lá điện tử bị cấm tại Na Uy nhằm thực hiện quy định mới về việc cấm sản phẩm thuốc lá và nicotin mới. Tháng 11/2017, Na Uy xem xét đưa ra hệ thống giấy phép đối với việc nhập khẩu các sản phẩm thuốc lá, phù hợp với quy định WTO.

  1. Hàng tạm nhập

Một số hàng hóa có thể được miễn thuế nếu chỉ tạm nhập khẩu vào Na Uy trong thời gian không quá 1 năm, ví dụ thiết bị chuyên ngành, hàng trưng bày hội chợ, hàng nhập khẩu với mục đích để sửa chữa.

Hầu hết các hàng hoá tạm nhập cần có bảo đảm. Tuy nhiên, một số hàng hoá dưới đây có thể được tạm nhập mà không cần có bảo đảm:

Thiết bị chuyên dụng có giá trị thấp hơn 10.000 NOK;

+ Xe cơ giới;

+ Máy bay tư nhân;

+ Container;

+ Thiết bị phát sóng;

+ Thiết bị đường sắt;

+ Hàng hóa để sử dụng trong trường hợp tai nạn lớn và thiên tai;

+ Hành lý của khách du lịch.

+ Nếu hàng hóa khi tạm nhập phải đóng thuế và phí thì được hoàn lại khi tái xuất.

+ Nếu có bảo lãnh, hàng hoá dưới đây không phải nộp thuế:

+ Thiết bị chuyên dùng có giá trị lớn hơn 10.000 NOK;

+ Hàng hóa để trình bày hoặc trình diễn tại hội chợ thương mại, triển lãm;

+ Thiết bị cho rạp xiếc và hội chợ giải trí;

+ Thiết bị cho các sự kiện văn hóa và thể thao;

+ Hàng hóa thử nghiệm;

+ Dụng cụ chuyên dụng;

+ Thiết bị khoa học;

+ Động vật cho mục đích chăn nuôi.

Nếu hàng hóa không có mục đích sử dụng nêu trên và không được xuất khẩu trong khoảng thời gian qui định (tối đa là 1 năm) thì phải thực hiện các thủ tục thông quan thông thường và phải trả các khoản thuế và phí theo qui định. Nếu quá thời gian có thể bị phạt. Nếu muốn kéo dài thời gian tạm nhập phải nộp đơn cho Cơ quan Hải quan trước khi hết hạn tạm nhập.

Các hình thức bảo lãnh:

+ Tiền gửi;

+ Bảo lãnh ngân hàng;

+ Thông qua tài khoản thuế;

ATA Carnet, một loại chứng từ hải quan quốc tế sử dụng trong việc tạm nhập hàng hóa miễn thuế.

Qui định về bao gói và nhãn mác của Na Uy

*******

Qui định về bao gói và nhãn mác của Na Uy, tổng hợp để doanh nghiệp tham khảo.

  1. Qui định về nhãn mác

Na Uy, với tư cách là một quốc gia thành viên EEA, áp dụng các yêu cầu ghi nhãn sản phẩm của EU. Ngoài ra, Na Uy cũng có các qui định riêng.

Ghi nhãn đa ngôn ngữ được cho phép, nhưng ít nhất phải có tiếng Na Uy;

Tất cả hàng hóa nhập khẩu cũng như chứng từ vận chuyển phải hiển thị đơn vị đo lường và trọng lượng;

Nếu hàng hoá yêu cầu phải có xuất xứ thì xuất xứ phải được đóng dấu trên sản phẩm hoặc hiển thị trên nhãn hàng hoá;

Việc sử dụng nhãn sinh thái không phải bắt buộc nhưng được khuyến khích. Tiêu chí khí thải carbon phải được thể hiện trên nhãn sinh thái;

Các sản phẩm phải được dán nhãn nếu hơn 2% bất kỳ thành phần nào có nguồn gốc từ công nghệ sinh học;

Tất cả thực phẩm đóng gói sẵn phải được ghi rõ ràng tên, thành phần, trọng lượng và khối lượng, thời gian lưu giữ, bất kỳ hướng dẫn thích hợp nào về việc lưu trữ và ngày tiêu thụ cuối cùng. Tất cả các sản phẩm phải hiển thị tên và địa chỉ của nhà sản xuất và nhập khẩu;

Đối với bao bì hàng hoá sử dụng chất liệu gỗ, cần phải ghi nhãn theo tiêu chuẩn quốc tế ISPM 15.                   

Các danh mục sản phẩm được liệt kê dưới đây phải tuân thủ các yêu cầu ghi nhãn của EU nhằm đảm bảo người tiêu dùng có được tất cả các thông tin cần thiết để đưa ra lựa chọn sáng suốt khi mua hàng.

+ Thuỷ sản;

+ Thực phẩm;

+ Giày dép;

+ Các sản phẩm liên quan đến năng lượng;

+ Các sản phẩm thịt;

+ Các sản phẩm dệt;

+ Săm lốp;

+ Rượu vang.

Chi tiết qui định về bao gói, nhãn mác các sản phẩm này, xem tại đây.

  1. Qui định về bao gói

Na Uy tuân theo các quy định của EU liên quan đến bao gói. Mục đích chính của đóng gói là để bảo vệ chất lượng ban đầu và vệ sinh của sản phẩm cho tới khi chúng đến tay người tiêu dùng. Có nhiều yêu cầu pháp lý khác nhau đối với đóng gói cho các loại hàng khác nhau, tùy theo nó được dùng cho sản xuất công nghiệp hay cho con người. Mục đích, vẫn là, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Một nhóm những Chỉ thị của EU qui định loại chất liệu bao gói được dùng khi tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Chỉ thị Đóng gói có những điều khoản về ngăn chặn chất thải bao gói, về tái sử dụng, và về thu gom và tái chế chất thải bao gói.

Qui định về kiểm dịch động thực vật của Iceland

*******

Theo qui định của Iceland, Cục Thú y và An toàn Thực phẩm Iceland (MAST), thuộc Bộ Công nghiệp và Đổi mới là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các qui định liên quan đến an toàn thực phẩm, sức khỏe động thực vật, kiểm soát giống cây trồng, phân bón, và nguồn nước dành cho tiêu dùng.

Là thành viên của Khu vực kinh tế Châu Âu (EEA), Iceland tuân thủ các qui định của EU về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật nhưng Iceland vẫn có những qui định riêng của mình.

  1. Kiểm dịch động vật

Việc nhập vật nuôi vào Iceland phải tuân theo điều kiện nghiêm ngặt. Các nhà nhập khẩu phải xin giấy phép nhập khẩu tại MAST và vật nuôi phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe (tiêm phòng và kiểm dịch) và phải cách ly trong 2 tuần đầu khi đến Iceland. Qui định chi tiết về nhập khẩu động vật sống xem tại đây.

Việc nhập khẩu các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật từ các nước ngoài EEA vào Iceland phải tuân thủ các qui định sau:

 + Sản phẩm có nguồn gốc động vật chỉ được nhập khẩu nếu được sản xuất từ các cơ sở chế biến được EU phê duyệt và được dán nhãn số phê duyệt của EU;

+ Sản phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu phải kèm theo giấy chứng nhận sức khỏe dành cho thị trường EU do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp;

+ Việc nhập khẩu sẽ phải thông báo qua Hệ thống Truy xuất TRACES ít nhất 24 giờ trước khi lô hàng đến của khẩu của một trong các nước thành viên EEA;

+ Mọi lô hàng đều phải được kiểm tra tại điểm kiểm tra biên giới của nước thành viên EEA. Danh sách các điểm kiểm tra biên giới của Iceland xem tại đây;

Chú ý các điều kiện đặc biệt khi nhập khẩu thịt sống/các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật.

Giấy phép nhập khẩu là bắt buộc đối với lô hàng động vật sống đầu tiên (chủng loại mới) và sản phẩm từ động vật, do phải trải qua giai đoạn đánh giá rủi ro bởi MAST. Việc đánh giá rủi ro này đều thực hiện theo các qui định của quốc tế, thông thường được đưa ra bởi OIE (Tổ chức sức khỏe động vật thế giới) và dựa trên các thông tin từ nước xuất khẩu.

MAST có thể cấp giấy phép cho việc nhập khẩu thức ăn biến đổi gen trong chăn nuôi bò nếu một số các yêu cầu được đáp ứng. MAST cũng có quyền đặt ra các tiêu chuẩn cho các nông trại trong việc nhập khẩu các loại động vật chăn nuôi.

Việc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chỉ có thể được tiến hành bởi các nhà nhập khẩu đã đăng ký. Chứng từ cho lô hàng thức ăn chăn nuôi phải thể hiện được thành phần, phụ gia, nếu thành phần đó có nguồn gốc động vật thì phải có giấy chứng nhận an toàn nêu rõ qui trình vệ sinh được sử dụng trong sản xuất, đóng gói và vận chuyển.

  1. Kiểm dịch thực vật

Một số sản phẩm có nguồn gốc phi động vật có nguồn gốc từ các nước không phải thành viên EEA chịu sự kiểm soát tại các điểm kiểm tra biên giới. Những sản phẩm này được liệt kê trong qui định 2019/1793 của EU. Nhập khẩu các sản phẩm này phải được thông báo ít nhất 24 giờ trong hệ thống TRACES.

Iceland áp dụng các qui định của EU đối với giống cây trồng nhưng có qui định riêng về sức khoẻ thực vật.

Các yêu cầu về nhập khẩu cây trồng và các sản phẩm thực vật được chi tiết trong qui định số 189/1990.

Theo qui định này, việc nhập khẩu thực vật và sản phẩm thực vật chỉ được phép nếu lô hàng được kèm theo giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật từ nước xuất khẩu và đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch thực vật trong qui định, ví dụ: kiểm dịch không có côn trùng gây hại.

Khi thực vật được trồng ở một quốc gia không phải là nước xuất khẩu, lô hàng sẽ phải kèm theo một bản sao giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật đi cùng với thực vật khi đến nước xuất khẩu, cùng với giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật đặc biệt để tái xuất từ ​​nước xuất khẩu.

Một số loài thực vật bị cấm nhập khẩu vào Iceland được qui định trong Phụ lục III của qui định số 189/1990.

  1. An toàn thực phẩm

Phần lớn các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm của EU đều được áp dụng tại Iceland. Tất cả các cơ sở kinh doanh hàng thực phẩm từ công đoạn sơ chế đến thực phẩm, bất kể có nguồn gốc động vật hay không đều phải đăng ký và được chứng nhận bởi MAST. Thực phẩm nhập khẩu phải tuân thủ các yêu cầu liên quan, ít nhất phải đáp ứng các yêu cầu của EU. Việc nhập khẩu động vật sống và các sản phẩm có nguồn gốc động vật phải qua hệ thống giám sát nhập khẩu.

Việc nhập khẩu máy móc thiết bị nông nghiệp, dụng cụ ngư nghiệp đã qua sử dụng cũng cần giấy phép nhập khẩu nếu hàng hóa đó đạt được điều kiện về vệ sinh và khử trùng do MAST đề ra.

Mục tiêu của các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm thúc đẩy sự an toàn và chất lượng thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn và để các nhà sản xuất thực phẩm có trách nhiệm đối với các sản phẩm của họ, luôn chú ý bảo vệ người tiêu dùng.

MAST phối hợp với Bộ Công nghiệp và Đổi mới xây dựng các luật mới để quản lý toàn bộ chuỗi thực phẩm. MAST chịu trách nhiệm kiểm soát an toàn thực phẩm trong sản xuất từ lò mổ và nhà máy chế biến thịt trong các lò mổ, kiểm soát các sản phẩm thủy sản và kiểm soát xuất nhập khẩu thực phẩm. Cơ quan giám sát kiểm soát thực phẩm của Ủy ban Y tế địa phương chịu trách nhiệm giám sát sản xuất và phân phối thực phẩm trong địa bàn phụ trách.

(Lê Thành Kông)

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Việt Nam đã cam kết gì về mở cửa thị trường nông sản?

Trả lời: Gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra các cam kết mở cửa thị trường nông sản thuộc các nhóm sau:

Cam kết về thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết về mức thuế nhập khẩu tối đa được phép áp dụng (gọi là mức cam kết) đối với 100% dòng thuế hàng nông sản.

Cam kết về các biện pháp phi thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết liên quan đến các biện pháp hạn ngạch thuế quan, các biện pháp quản lý chuyên ngành nông nghiệp.

Quyền đàm phán ban đầu (INR): Trong quá trình thực hiện cam kết, trong một số trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có thể tăng thuế cao hơn mức cam kết. Trong trường hợp đó, Việt Nam phải đàm phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu (tên những nước đó được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết). Những nước đề nghị INR đối với nông sản của Việt Nam chủ yếu là Mỹ, Úc, New Zealand, Braxin.

********

Hỏi: Mức cam kết cắt giảm thuế quan đối với nông sản nhập khẩu được đánh giá như thế nào?

Trả lời: Về mức cam kết giảm thuế chung: Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế bình quân là 10,6% so với Quy chế tối huệ quốc (MFN) hiện hành.

Về mức giảm thuế đối với từng nhóm nông sản:

+ Các loại nông sản chế biến (như thịt, sữa, rau quả chế biến, thực phẩm chế biến, quả ôn đới, và quả có múi) phải giảm nhiều hơn so với nông sản thô (do những sản phẩm chế biến này vào thời điểm đàm phán gia nhập WTO Việt Nam đang áp dụng mức thuế suất nhập khẩu cao).

+ Các loại nông sản thô (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều,…): mức thuế nhập khẩu những sản phẩm này giảm rất ít hoặc không giảm.

Về thời gian cắt giảm: Việt nam cam kết cắt giảm dần các loại thuế nhập khẩu đối với nông sản trong thời gian từ 3-5 năm kể từ ngày gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (11/1/2007). Tức là việc cắt giảm sẽ phải hoàn thành vào 2009-2012 tùy theo sản phẩm. Mức giảm thuế sẽ được chia đều cho mỗi năm trong lộ trình cắt giảm.

********

Hỏi: Biểu cam kết thuế nông nghiệp được thiết kế như thế nào?

Trả lời: Mức cam kết thuế đối với hàng nông sản của mỗi nước thành viên WTO được quy định tại Biểu cam kết nông sản của nước đó.

Đối với Việt Nam, cam kết về thuế quan đối với hàng nông sản được nêu tại Biểu CLX – Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng hóa – Thuế suất tối huệ quốc hàng nông sản trong Văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam.

Biểu cam kết thuế gồm 7 cột với các nội dung sau:

Cột 1: Cột mã số HS (mã HS 8 số)

Cột 2: Mô tả sản phẩm (tên diễn giải của sản phẩm)

Cột 3: Mức thuế suất ban đầu (là mức thuế cam kết thực hiện ngay năm đầu tiên khi gia nhập WTO, với Việt Nam là từ ngày 11/1/2007)

Cột 4: Mức thuế suất cuối cùng (là mức thuế cam kết thực hiện vào cuối lộ trình giảm thuế)

Cột 5: Lộ trình giảm thuế (hay còn gọi là “Giai đoạn thực hiện” là khoảng thời gian phải hoàn thành quá trình giảm thuế từ mức thuế suất ban đầu đến mức thuế suất cuối cùng)

********

Hỏi: Thuế nhập khẩu nông sản có thể giảm xuống mức thấp hơn mức thuế suất cam kết trong WTO không?

Trả lời: Cam kết thuế trong WTO của mỗi nước (đối với các sản phẩm nói chung và đối với nông sản nói riêng) là mức thuế tối đa mà nước đó có thể áp dụng đối với hàng nhập khẩu tương ứng. Các nước thành viên được khuyến khích áp dụng mức thuế thấp hơn mức cam kết.

Vì vậy, các thuế suất nhập khẩu đối với nông sản trong Biểu cam kết thuế nông sản của Việt Nam là mức thuế suất nhập khẩu cao nhất mà Việt Nam được quyền áp dụng đối với từng loại nông sản nhập khẩu (không được áp thuế suất cao hơn mức đó). Còn Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng các thuế suất thấp hơn (giảm thuế nhiều hơn mức cam kết).

Trên thực tế, các mức thuế suất hiện đang áp dụng đối với hàng nông sản nhập khẩu của Việt Nam thấp hơn so với mức cam kết. Nói cách khác, mức độ mở cửa thị trường nông sản trên thực tế của Việt Nam đã nhiều hơn mức cam kết.

********

Hỏi: Tại sao Việt nam lại duy trì mức thuế suất đối với nông sản trên thực tế thấp hơn mức thuế suất cam kết trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO)?

Trả lời: Việt Nam duy trì mức thuế suất đối với nông sản trên thực tế thấp hơn mức thuế suất cam kết dựa trên các lý do sau:

+ Để tránh gian lận: Mức thuế cam kết trong WTO giữa các sản phẩm trong cùng một nhóm thường rất khác nhau. Nếu áp dụng đúng như mức cam kết thường dẫn tới khả năng gian lận thương mại cao (khai từ loại hàng này sang loại hàng khác để đóng thuế ít hơn) và việc áp thuế cũng phức tạp. Vì vậy, trong thực tế áp dụng, người ta thường áp chung một thuế suất với các sản phẩm tương tự và mức này là mức thuế suất cam kết thấp nhất của sản phẩm trong nhóm đó;

+ Để mở khả năng bảo hộ trong tương lai: Với mức thuế suất cam kết cao, dù hiện tại đang áp dụng mức thuế suất thấp hơn (do chưa cần bảo hộ), Việt Nam có thể tăng thuế trở lại trong tương lai khi có nhu cầu bảo hộ đối với sản phẩm đó;

+ Để phù hợp hoàn cảnh: Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, sẽ thực hiện giảm thuế hơn nữa đối với một số mặt hàng. Ví dụ, trước sức ép chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, giữa năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định giảm thuế thịt gia cầm từ 30% xuống 12%, thịt bò, thịt lợn từ 20% xuống 12%, ngô từ 5% xuống 3% mặc dù mức thuế cam kết của ta cho năm 2007 là 40% đối với thịt gà, 20% đối với trâu bò và thịt lợn, 5% đối với ngô.                      

(Nguyễn Thị Thắng)